COI CHỪNG GIẶT KHÔ GÂY NGUY HIỂM!

Hai hiệp hội bảo vệ môi trường Pháp mới đây đã lên tiếng báo động về rủi ro gây nguy hiểm của một hóa chất được dùng rất phổ biến trong việc giặt khô (dry cleaning, ở ta còn gọi là giặc hấp). Đó là hóa chất perchlorethylene viết tắt là PERC. Hóa chất PERC đã bị gia đình cụ bà José-Anne Bernard, 72 tuổi, ở thành phố Nice bên Pháp cáo buộc là đã gây ra cái chết của bà cụ vào năm 2009. Bà cụ sống kế cận một cơ sở giặt khô với hóa chất PERC. Theo con trai của bà cụ, khám nghiệm tử thi cho thấy cụ bị nhiễm PERC trong tất cả các bộ phận cơ thể, ngoại trừ dạ dày. Tức là nạn nhân bị chết vì bị nhiễm hóa chất này, chứ không phải vì đã uống nhầm.
Trong ngành giặt ủi quần áo, có hai cách giặt. Một là giặt “nước” thông thường tức dùng xà phòng, chất tẩy rửa và làm sạch với nước. Hai là giặt “khô”, còn được gọi hấp, dùng dung môi và làm cho bốc hơi dung môi đó để giặt đồ bằng len hay nỉ. Khám phá ra phương pháp giặt khô là chuyện tình cờ của ông thợ nhuộm người Pháp tên là Jean Baptiste Jolly vào năm 1855. Sốlà cô gái giúp việc vô ý làm đổ dầu hôi lên tấm khăn phủ bàn ăn, khi mang đi giặt ông chủ thấy chiếc khăn sạch sẽ hơn vì chất dầu đã tẩy sạch vết mỡ trên khăn. Từ nhận xét đó ông ta nghiên cứu thêm và đề ra phương pháp giặt khô bằng hóa chất là dung môi hòa tan mỡ béo. Ngày nay, 90% các tiệm giặt khô đều dùng dung môi là PERC.
PERC là gì?
 PERClà perchloroethylene hay có tên khác là tetrachloroethylene, công thức hóa học là CLC=CCl,. Dưới nhiệt độ thường, PERC ở trạng thái lỏng không bắtlửanhưng rất dễ bay hơi và hòa lẫn trong không khí. Khi tẩm vào quần áo len, nỉ và hấp ở nhiệt độ cao thích hợp, thì PERC bốc hơi và mang theo chất béo mà nó hòa tan. Vào năm 1991, có khoảng 300 triệu cân Anh PERC được sản xuất ở Mỹ. Và hằng năm, khoảng 200 triệu cân Anh PERC được gần 35.000 tiệm giặt ủi ở nước Mỹ dùng làm dung môi. Khi được sử dụng, PERC bay hơi hòa lẫn trong không khí cũng như xâm nhập vùng đất, nước chung quanh nơi nó được phóng thích.
PERC có ảnh hưởng đến sức khỏe
Số lượng PERC xâm nhập cơ thể nhiều hay ít tùy theo: thời gian cơ thể tiếp xúc với nó, hóa chất có nhiều hoặc ít trong không khí.
Tác dụng không tốt thường thấy của PERClà: nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn; làm suy nhược hệ thần kinh trung ương, tổn thương cho gan, thận; giảm trí nhớ thoảng qua, mất định hướng; dị ứng gây ngứa mắt, mũi, hầu họng; da khô, viêm... Tác giả Rotilio đã nêu ra trường hợp một nữ công nhân giặt ủi bị giảm thị giác vì hít thở hơi PERC khi bà ta ủi quần áo giặt với PERC. Tác giả Vaughn ghi nhận bước đầu PERC có mối liên hệ với ung thư miệng, hầu họng. Mốt số nghiên cứu cho thấy PERC có thể là chất gây ung thư cho súc vật. Viện Quốc gia Hoa Kỳ về An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp đang nghiên cứu thêm về ảnh hưởng gây ung thư này của PERC. Ngoài ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của nhân viên làm trong nhà giặt ủi, PERC còn mang rủi ro cho dân chúng sống gần tiệm giặt. Do đó nhiều quốc gia đã ban hành biện pháp để giảm thiểu các rủi ro này.
Phòng rủi ro vì PERC
 Một số người cho rằng PERC không gây nhiều rủi ro cho sức khỏe nếu biết dùng đúng chỉ dẫn của nhà sản xuất. Cũng có ý kiến cho rằng cải tiến các máy giặt ủi có thể giảm thiểu rủi ro trong dịch vụ này, nhưng sự cải tiến lại tốn kém và các tiệm giặt ủi nhỏ không đủ tài chính để trang bị máy móc cho việc cải tiến. Vấn đề mà các tổ chức bảo vệ môi trường ở các nước hiện nay đấu tranh đòi hỏi là phải nghiêm cấm hoàn toàn việc sử dụng PERC. Tuy nhiên, nhiều nước vẫn chưa có sự thay đổi nhiều đối với việc dùng PERC. Một số nước tìm cách nghiên cứu và ban hành các quy định hạn chế việc lan tỏa dung môi độc hại này, đồng thời cấm xây đặt các cơ sở giặt ủi mới sát cạnh các khu nhà ở đông dân cư. Để tránh các rủi do nghề nghiệp trong việc giặt khô, cơ quan An toàn Nghề nghiệp Hoa Kỳ đề ra các quy định như sau: - Hàm lượng PERC trong không khí và nước nơi giặt ủi không được Vượt quá mức quy định; - Tiệm giặt cần trang bị máy thanh lọc không khí và điều hòa nhiệt độ nơi làm việc để nhân viên không phải hít thở không khí ô nhiễm PERC; - Nhân viên làm theo ca và có thời gian nghỉ để tránh tiếp xúc PERC quá lâu, - Có thiết bị nâng đỡ bàn ủi để công nhân khỏi phải trực tiếp cầm nhấc bàn ủi liên tục và hít phải PERC quá lâu.
Người tiêu dùng có thể tránh rủi ro do PERC bằng cách:
- Mua sử dụng quần áo “chỉ giặt khô” (Dry clean only) một cách vừa phải hoặc càng ít càng tốt;
- Sau khi lấy quần áo giặt khô về nhà thì vứt bỏ túi bọc nylon, treo quần áo nơi thoáng khí để hơi PERC bay hết trước khi mặc,
- Ở Mỹ, người tiêu dùng còn được khuyên nên thảo luận với tiệm giặt khô, đề nghị họ thay đổi cách giặt để tránh rủi do cho Sức khỏe Vì PERC.

MÙI THƠM CỦA BẮP RANG BƠ CÓ THỂ GÂY HẠI !

Những ai đã ăn bắp rang bơ (popcorn) đều công nhận món ăn này thật khoái khẩu do có mùi thơm bơ quá ư hấp dẫn. Nhưng hiện nay, người ta không còn xem mùi bơ hấp dẫn này có lợi, trái lại, là kẻ tội đồ vì gây tác hại trầm trọng đến sức khỏe con người. Mùi thơm bơ của bắp rang gây hại như thế nào?
 Mùi thơm bơ của bắp rang không phải là do người ta cho bơ vào các hạt bắp rồi rang lên và nhờ hơi nóng mà bơ chảy ra bốc mùi thơm. Có mùi thơm hấp dẫn đó là nhờbắp rang đã được trộn với một hóa chất có tên diacetyl và nhờ hơi nóng mà cho mùi. Diacetyl (DA) còn có tên butan-2,3-diolvới cấu trúc thật đơn giản (CH,CO), DA là chất lỏng dễ bay hơi, khi hóa hơi thì cho mùi thơm bơ nồng nàn hơn cả bơ thật. Diacetyl được tổng hợp bằng phản ứng khử hydro hóa chất 2,3-butandiolvà trong thiên nhiên người ta tìm thấy nó khi lên men sữa, kem của sữa với một chủng vi khuẩn lên men acid lactic. Do cung cấp mùi bơ đặc trưng mà DA được dùng cho vào margarine, bánh snack, kẹo, bắp rang, kể cả bia , rượu vang.Người ta cho DA vào margarine vì margarine là bơ thực vật làm từ dầu ăn nhờ thêm beta-caroten cho có màu vàng và DA để có mùibơmà ta cứ tưởng margarine là bơ động vật thật. Cho DA vào bia, vào rượu vang mà các loại thức uống này có mùi vị hấp dẫn hơn nhiều (bia Anh có tên English pale ales hay vang Chardonnay nổi tiếng chính nhờ thêm DA).
Nhờ tính chất dễ bay hơi cho mùi thơm mà DA được tận dụng dùng trong thực phẩm nhưng cũng do tính chất này mà DA trở thành mối họa của con người. Cách nay gần chục năm, Viện Quốc gia Sức khỏe và An toàn nghề nghiệp của Mỹ bắt đầu lưu ý cảnh giác về sự không an toàn khi hít phải hơi DA trong thời gian dài. Bởi vì nhiều công nhân làm việc tại các nhà máy sản xuất thực phẩm dùng phụ gia DAtạo mùi bơnhư sản xuất bắp rang bơ mắc một loại bệnh hô hấp đặc biệt gọi là viêm tiểu phế quản co khít (constrictive bronchiolitishay brochiolitis obliterans, viết tắt BO). Đặc biệt, những người bị mắc BO là những đàn ông trẻ, khỏe và không hút thuốc lá. Trong một thời gian dài người ta không tìm được nguyên nhân bệnh vì triệu chứng rất giống đưa đến nhận lầm là bệnh viêm phổi, viêm phế quản, hen suyễn... Sau người ta tìm được nguyên nhân gây ra BO đặc biệt này là do chất tạo mùi bơDA nên gọi đây là bệnh phổi của công nhân làm bắp rang (popcorn worker'slung) hay bệnh viêm tiểu phế quản do diacetyl (diacetyl-induced bronchiolitis obliterans). Người hít phải DA trong thời gian dài sẽ bị viêm và xơ hóa các tiểu phế quản của phổi làm các đường thở này bị chít hẹp một phần hay toàn phần. Người bị BO do diacetylsẽ khó thở, thở khò khè, ho khan dữ dội, nếu quá nặng sẽ suy hô hấp và tử vong. Bệnh khó trị và không hồi phục, nếu nặng chỉ có thể chữa bằng cách ghép phổi. Do có bằng chứng về nguy hại của việc hít lâu dài hơi DA nên từ 2007, ở Mỹ nổi rộ dư luận đòi cấm sử dụng DA làm chất tạo là bơ thực vật làm từ dầu ăn nhờ thêm beta-caroten cho có màu vàng và DA để có mùibơmà ta cứ tưởng margarine là bơ động vật thật. Cho DA vào bia, vào rượu vang mà các loại thức uống này có mùi vị hấp dẫn hơn nhiều (bia Anh có tên English pale ales hay vang Chardonnay nổi tiếng chính nhờ thêm DA). Nhờ tính chất dễ bay hơi cho mùi thơm mà DA được tận dụng dùng trong thực phẩm nhưng cũng do tính chất này mà DA trở thành mối họa của con người. Cách nay gần chục năm, Viện Quốc gia Sức khỏe và An toàn nghề nghiệp của Mỹ bắt đầu lưu ý cảnh giác về sự không an toàn khi hít phải hơi DA trong thời gian dài. Bởi vì nhiều công nhân làm việc tại các nhà máy sản xuất thực phẩm dùng phụ gia DAtạo mùi bơnhư sản xuất bắp rang bơ mắc một loại bệnh hô hấp đặc biệt gọi là viêm tiểu phế quản co khít (constrictive bronchiolitishay brochiolitis obliterans, viết tắt BO). Đặc biệt, những người bị mắc BO là những đàn ông trẻ, khỏe và không hút thuốc lá. Trong một thời gian dài người ta không tìm được nguyên nhân bệnh vì triệu chứng rất giống đưa đến nhận lầm là bệnh viêm phổi, viêm phế quản, hen suyễn... Sau người ta tìm được nguyên nhân gây ra BO đặc biệt này là do chất tạo mùi bơDA nên gọi đây là bệnh phổi của công nhân làm bắp rang (popcorn worker'slung) hay bệnh viêm tiểu phế quản do diacetyl (diacetyl-induced bronchiolitis obliterans). Người hít phải DA trong thời gian dài sẽ bị viêm và xơ hóa các tiểu phế quản của phổi làm các đường thở này bị chít hẹp một phần hay toàn phần. Người bị BO do diacetylsẽ khó thở, thở khò khè, ho khan dữ dội, nếu quá nặng sẽ suy hô hấp và tử vong. Bệnh khó trị và không hồi phục, nếu nặng chỉ có thể chữa bằng cách ghép phổi. Do có bằng chứng về nguy hại của việc hít lâu dài hơi DA nên từ 2007, ở Mỹ nổi rộ dư luận đòi cấm sử dụng DA làm chất tạo mùi bơ trong thực phẩm. Thậm chí có hai nhà sản xuất là Weaver Popcorn Company of Indianapolis và ConAgra Foods đã hứa không cho DA vào việc sản xuất bắp rang của họ. Nhưng cho đến nay, cơ quan Quản lý Thực-Dược phẩm (FDA) Mỹ vẫn công nhận DA là chất an toàn dùng trong thực phẩm và chưa có văn bản chính thức của Liên bang Hoa Kỳ về vấn đề cảnh giác DA. Mới đây nhất, trong một nghiên cứu thử trong ống nghiệm (gọi là thử in vitro, tức chỉ thử trong phòng thí nghiệm và chưa thử trên người), một số nhà khoa học nhận thấy DA có cấu trúc tương tự một chất khiến các protein beta-amyloid kết lại thành khối trong não, và làm tăng mức độ kết khối của beta-amyloid tạo thành mảng. Tình trạng này được xem là dấu hiệu của bệnh Alzheimer vì sự tích tụ các mảng beta-amyloid sẽ đưa đến thoái hóa các tế bào thần kinh. Là chất dễ bay hơi và thân mỡ, DA dễ dàng xâm nhập “rào chắn máu-não” là hàng rào bảo vệ vốn có chức năng ngăn chặn nhiều chất có hại đi vào não, thâm nhập vào não và gây hại. Ta cần biết, bệnh Alzheimer là một bệnh thoái hóa não nguyên phát, biểu hiện lâm sàng bằng trạng thái mất trí tiến triển, không phục hồi, thường khởi phát ở người cao tuổi. Trạng thái mất trí tiến triển thường khởi đầu bằng rối loạn trí nhớ, các rối loạn ngôn ngữ, rối loạn hoạt động, rối loạn trí tuệ. Nguyên nhân gây ra bệnh Alzheimer hiện nay vẫn chưa được giải thích thật rõ ràng và được công nhận nhiều hơn cả là giả thuyết cho rằng sự tích tụ betaamyloid trên não là nguyên nhân cơ bản của bệnh. Một cơ sở ủng hộ giả thuyết này là do vị trí của gen sản xuất protein là tiền chất của beta-amyloid (gen APP) nằm trên nhiễm sắc thể 21 trong khi những người mắc hội chứng Down (có 3 nhiễm sắc thể 21) tức là có thêm 1 phiên bản của gen APP thì hầu hết đều mắc bệnh Alzheirmer ở độ tuổi trên 40. Đồng thời, đột biến genAPOE4, một yếu tố nguy cơ di truyền của bệnh Alzheimer, gây ra việc tích tụ quá nhiều beta-amyloid trong não trước khi có các biểu hiện của bệnh Alzheimer xuất hiện. Qua hình ảnh hiển vi của não bệnh nhân Alzheimer có thể thấy các mảng amyloid (amyloid plaque). Mặc dù có nhiều người già có hình thành các mảng amyloid do quá trình lão hóa, não của bệnh nhân Alzheimer thường có số lượng các mảng nhiều hơn ở những vùng não nhất định, ví dụ như thùy thái dương. Người ta cũng chứng minh sự tích tụ các mảng beta-amyloidsẽ gây thoái hóa các tế bào thần kinh. Nay một số nhà khoa học nhận thấy mùi thơm bơ DA có cấu trúc tương tự một chất khiến các protein beta-amyloid kết lại thành khối trong não tạo thành mảng thì rõ ràng việc dùng DA trong thực phẩm là rất đáng lo ngại. Chỉ vì thích ăn bắp rang bơ có chứa DA vì khoái khẩu mà con người sẽ rước vào thân căn bệnh hiện nay không thể chữa khỏi và tiêu tốn nhiều tiền của ở các nước tiên tiến. Nếu được ăn bắp được rang bơ thật sự hoặc rang chẳng cần mùi bơ để được an toàn thì hay biết mấy.

ĐỪNG ĐỂ CADIMI HẠI TRẺ

Thời gian gần đây, báo chí đưa tin phát hiện lồng đèn nhựa Trung Quốc chứa chất gây nguy hại cho sức khỏe là cadimi. Lượng cadimi qua kiểm nghiệm chứa trong đồ chơi rất bắt mắt trẻ con gấp đến 123 lần mức cho phép trong Bộ tiêu chuẩn an toàn đồ chơi do Bộ Khoa học Công nghệ nước ta ban hành. Sau đây là giải đáp thắc mắc về độc chất cadimi.
Cadimi là chất gì, thường được sử dụng trong các hoạt động gì?
Cadimi có tên khoa học là cadmium, ký hiệu là Cd, là một nguyên tố vô cơ. Cd được phân vào nhóm kim loại nặng, trong đó Cd cùng với chì, thủy ngân (cũng là kim loại nặng) là các độc chất thuộc loại độc nhất đối với cơ thể con người. Trong ngành dược, một dược phẩm ra đờilưu hành đến tay người tiêu dùng bắt buộc không được chứa kim loại nặng (tức kiểm nghiệm không được chứa kim loại nặng như chì, thủy ngân, cadimi quá ngưỡng cho phép). Trong cuộc sống, Cd được dùng trong sản xuất pin, acquy, dùng mạ kim loại. Vì Cd khi tạo các hợp chất cho màu sắc đẹp khác nhau, như Cd sulfid cho màu vàng, Cd selenid cho màu đỏ, Cd oxide cho màu nâu..., mà các hợp chất Cd còn được dùng làm phẩm màu trong sản xuất sơn. Do Cd rất độc, độc gấp nhiều lần so với chì, mà người ta quy định Cd không chứa quá giới hạn cho phép trong môi trường, đặc biệt trong các sản phẩm có dùng các hợp chất chứa độc chất này.
Ngưỡng tối đa cho phép cadimi có trong đồ chơi trẻ em là bao nhiêu? Nếu hàm lượng cadimi có trong sơn phủ của lồng đèn nhựa cao hơn gấp 123 lần mức cho phép, như báo chí phản ánh thì có thể gây ra hậu quả như thế nào?
 Lượng Cd được phép có trong đồ chơi trẻ em theo tiêu chuẩn Việt Nam là 60 microgram/kg tức lớp sơn phủ đồ chơi không được chứa quá 60microgram Cd trong một kg lớp sơn phủ đó. Trong sơn phủ của lồng đèn nhựa mà báo chí đưa tin cao hơn gấp 123 lần mức cho phép tức là chứa đến 7.390 microgram/kg Cdlà quá cao. Trẻ con tiếp xúc với đồ chơi này lâu ngày sẽ bị ngộ độc Cd. Cd có thể có trong không khí do sản xuất sản phẩm chứa Cd có thể phát tán dạng bụi mù (lưu ý trong khói thuốc lá có chứa Cd tuy lượng rất nhỏ) mà các nước có quy định mức cho phép Cd trong không khí không quá 50 microgram/m”.
Đối với trẻ em đã lỡ tiếp xúc, cắn, ngậm lồng đèn với lớp nhựa có hàm lượng cadimi cao, thì hậu quả có thể gây ra như thế nào?
 Trẻ con khi chơi đồ chơi không chỉ sờ, nắm mà còn hay liếm, cắn, ngậm chắc chắn sẽ hấp thu dộc chất nếu đồ chơi đó chứa độc chất. Ngày nay, người ta đã xác định tác hại của Cd khi Cd xâm nhiễm vào cơ thể người. Cd là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại bệnh như loãng xương, thiếu máu, suy gan thận rất nặng, gây nhiều loại ung thư như ung thư tuyến tiền liệt, ung thư phổi, đối với phụ nữ có thai thì làm tăng nguy cơ gây dị dạng cho thai nhi.
Có cách nào để hạn chế được nguy hiểm do cadimi mang lại, khi trẻ đã lỡ tiếp xúc với chúng? Tốt nhất là không để trẻ không tiếp xúc và để bị xâm nhiễm Cd vào trong cơ thể. Nếu trẻ lỡtiếp xúc với Cdvà độc chất này đã xâm nhiễm thì không thể loại trừ chúng ra khỏi cơ thể để trẻ không bị tác hại. Nếu bị ngộ độc Cd, có một số triệu chứng giúp nhận biết như mệt mỏi, nhức đầu, ói mửa, thiếu máu, mất vị giác, rối loạn chức năng thận... , nhưng đối với trẻ thì thật khó nhận biết vì chúng chưa có khả năng mô tả. Khi đã bị ngộ độc Cdchỉ có thể trị các triệu chứng của rối loạn chứ không có thuốc chữa trị ngộ độc Cd đặc hiệu. Vì vậy, tốt nhất là đừng để Cd có điều kiện tiếp xúc, xâm nhiễm làm hại trẻ.
Ngoài ra, pin có trong lồng đèn, nếu trẻ cắn, ngặm vào có gây nguy hiểm gì không? Có nhiều loại pin, trong đó có một số là pin chứa Cd. Các pin đều có lớp vỏ ngoài bảo vệ, nếu trẻ chỉ sờ nắm pin thì có thể không việc gì nhưng nếu trẻ ngậm, cắn loại pin có chứa Cd (chưa kể trẻ có thể nuốt như báo cáo của các bệnh viện nhivề trẻ nuốtpin loại nút áo đã xảy ra) thì trẻ có thể bị nguy hiểm do ngộ độc độc chất.
Có khuyến cáo như thế nào đến người tiêu dùng, các ông bố bà mẹ trước mối nguy hiểm mà cadimi đang đe dọa? Trước vụ đồ chơi trẻ có chứa Cd được phát hiện thì đã có các thông tin về ngộ độc chì do tiếp xúc với sản phẩm có dưlượng chì quá cao cho trẻ là đối tượng rất dễ bị nhiễm độc chì. Vì vậy, xin có ý kiến, các cơ quan quản lý chức năng nước ta rất cần thường xuyên kiểm tra đồ chơi trẻ con và kể cả dụng cụ đồ dùng sinh hoạt như cốc thủy tinh, đồ nhựa chén bát... in hình màu mè sặc sỡ đang lưu hành xem có đạt tiêu chuẩn không được chứa độc chất Cd và cả chì quá giới hạn cho phép hay không. Riêng đối với các bậc cha mẹ cần nâng cao ý thức bảo vệ không để trẻ bị nhiễm độc chất từ việc lựa chọn đồ chơi cho trẻ. Tốt nhất không chọn đồ chơi sơn phủ màu sắc sặc sỡ, lòe loẹt. Cần có sự nghi ngờ đồ chơi cho trẻ càng có nhiều màu sắc “bắt mắt” càng có nguy cơ chứa chất phủ là độc chất của Cdvà chì. Trẻ chơi đồ chơi bị nghi ngờấy không thu nhiều về sự giải trí và giáo dục mà chỉ có hại do không quản lý tốt về chất lượng.

BAO BÌ NHỰA DẺO, BỌC NYLON KHÔNG DÙNG TÙY TIỆN !

Hiện nay, nhiều nước, đặc biệt các nước tiên tiến như ở châu Âu, Mỹ..., người ta cảnh giác và dùng rất thận trọng các loại bao bìlànhựa dẻo như chaican nhựa, túi bao gói nylon, đầu núm vú, bình sữa, đồ chơi trẻ con bằng chất nhựa dẻo. Vì dùng không đúng cách như dùng bọc nylon đựng thức ăn nóng hoặc bỏ hộp nhựa dẻo đựng thực phẩm vào lò vi sóng để đun... có thể gây tác hại cho sức khỏe.
Ta cần biết, các loại bao bì nhựa dẻo chủ yếu là các hóa chất cao phân tử PVC (polyvinyl clorua), PE (polyethylen)... Để đúc khuôn tạo dáng cho các bao bì này người ta phải thêm chất hóa dẻo (plasticizer) là các hóa chất có cấu trúc tương tự tạo thành nhóm gọi là các “dẫn chất phtalate” như monobutyl phtalate (MBP), dibutyl phtalate (DBP), benzylbutyl phtalate (BZBP), monomethylphtalate (MMP)... Các dẫn chất phtalate này tuyệt đối không được dùng trong thực phẩm và dược phẩm. Cách đây không lâu đã xảy ra vụ bê bối thực phẩm nhiễm hóa chất công nghiệp diethylhexylphtalate (DEHP) ở Đài Loan, sau đó lại xảy ra cũng tại nước này vụ thu hồi dược phẩm là bột pha hỗn dịch uống thuốc kháng sinh Augmentin do phát hiện có chứa diisodecylphtalate (DIDP) diisononylphtalate (DINP). Các dẫn chất phtalate thường được dùng làm chất hóa dẻo cho các bao bì nhựa dẻo. Nếu bao bì đó đựng thực phẩm và trong quá trình sử dụng chế biến đun nóng ởnhiệt cao, các dẫn chất phtalate bị thôi ra nhiễm vào thực phẩm và theo đường tiêu hóa vào trong cơ thể con người sẽ gây hại. Trẻ con dùng bình sữa, bát nhựa, đồ chơi bằng nhựa dẻo có chứa hàm lượng cao các phtalate cũng có nguy cơ rất cao bị nhiễm chất này. Các dẫn chất phtalate gây hại gì? Táchại của các dẫn chấtphtalate vào trong cơ thể gây hại nhiều mặt nhưng hại lớn nhất là làm xáo trộn nội tiết hay phá vỡnội tiết (endocrine disruptors). Đặc biệt, bé gái bị nhiễm phtalate sẽ dậy thì sớm trước tuổi. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này và một số nghiên cứu lại được tiến hành tại Đài Loan. Gần đây nhất là công trình nghiên cứu của Chou YY và cộng sự thực hiện tại khoa Y, Đại học Quốc gia Chen Kung Đài Loan vào năm 2009. Nghiên cứu trên 30 bé gái dậy thì sớm so với 33 bé gái bình thường cho thấy, trong nước tiểu bé gái dậy thì sớm chứa lượng monomethylphtalate (MMP) cao hơn nhiều so với bé gái bình thường, và kết luận MMP có thể là một nguyên nhân môi trường gây dậy thì sớm ở bé gái Đài Loan (Phtalate exposure in girls during early puberty, J Pediatr Endocrinol Metab. 2009; 22(1): 6977). Vì vậy, ta không ngạc nhiên là Đài Loan rất mạnh tay trong việc thu hồi các sản phẩm chứa dẫn chất phtalate là DEHP, DIDP và DINP phát hiện trong sản phẩm ở nước họ và hoạt động rất tích cực trong mạng lưới cảnh báo vệ sinh thực phẩm toàn cầu. Hiện nay ở nước ta, giống nhưnhiều nước trên thế giới, có hiện tượng bé gái dậy thì sớm (thậm chí rất sớm 2-3 tuổi đã được ghi nhận) đã xảy ra. Hiện tượng dậy thì sớm ở bé gái có thể do hai nguyên nhân. Trước hết, do tự thân cơ thể bé gái có những rối loạn về mặt sinh dục đưa đến dậy thì sớm. Thí dụ như có bướu ở vùng dưới đồi hoặc ở tuyến tùng nằm ởnão bộ có thể gây tăng tiết estrogen sớm để làm dậy thì bé gái chưa đến 8 tuổi. Nguyên nhân tự thân rối loạn có tính chất cá biệt và rất hiếm xảy ra. Chính nguyên nhân còn lại là đáng quan tâm vì xuất phát từ môi trường và rối loạn có thể xảy ra cho một quần thể gồm nhiều bé gái nữ do tiếp xúc với môi trường gây rối loạn. Những chất từ bên ngoài môi trường được đưa vào cơ thể con người hoạt động như estrogen được gọi là xenoestrogen (có nghĩa chất tương tự, có tác dụng giống như estrogen từ bên ngoài đưa vào cơ thể). Cơ thể bé gái chưa dậy thì nhưng do tiếp xúc với xenoestrogen xem như có một lượng estrogen có trong cơ thể, estrogen này sẽ kích hoạt vùng dưới đồi và tuyến yên ở não tiết ra các hormone hướng dục (gonadotropins) đánh thức buồng trứng làm việc và làm xuất hiện sớm những hiện tượng đặc trưng của giới tính nữ. Đó là bé gái phát triển vú, sau đó mọc lông nách, lông trên xương mu và xuất hiện kinh nguyệt. Nhiều phtalate đã được ghi nhận có tác dụng như một xenoestrogen. Ta cần biết, các hormone sinh dục kể cả nam và nữ, về mặt cấu trúc hóa học, đều có phần tương tự, xuất phát từ chất đầu tiên là cholesterol. Vì vậy, xenoestrogen không chỉảnh hưởng đến estrogen mà còn ảnh hưởng đến các hormone khác, và các phtalate được xem là chất làm rối loạn hormone giới tính nói chung, tức cũng có ảnh hưởng đến hormone nam giới là vì thế. Hiện nay, người takhông chỉcảnh giác với các dẫn chấtphtalate bị nhiễm trong thực phẩm mà còn lo ngại về các vật dụng sinh hoạt hằng ngày có chứa các chất gây nguy hại này. Cũng vì tác hại của dẫn chất phtalate nên hiện nay nghị viện châu Âu không cho phép dùng DBP và DEHP có trong đồ chơi trẻ em và cả trong mỹ phẩm. Đối với chúng ta, cơ quan quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm phải xem việc cảnh giác, phát hiện và không cho sử dụng các loại thực phẩm chứa dẫn chất phtalate là rất cần thiết. Đối với người dân, cũng nên dùng cẩn thận các sản phẩm nhựa dẻo như đã kể vì có thể chứa các dẫn chất phtalate. Không nên chế biến thức ăn quá nóng hoặc để trong lò vi ba trong các tô chén, bao bì bằng nhựa mànên thay bằng vật đựng bằng thủy tinh, sứ (nhiệt độ quá nóng các phtalate dễ thôi ra). Dùng lá chuối hoặc giấy làm bao bì thay vì dùng bao bì bằng nhựa, plastic là tốt hơn xét về vấn đề bảo vệ môi trường. Báo chícần truyền thông mạnh hơn về những việc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng rất cần thiết là không dùng bọc nylon đựng thức ăn nóng hoặc bỏ hộp nhựa vào lò vi sóng. Một số bệnh viện đã bắt đầu khuyến cáo người nhà bệnh nhân không dùng bọc nylon để đi nhận canh từ thiện còn bốc khói nghi ngút.

HÍT KHÍ CƯỜI : RƯỚC HẠI VÀO THÂN

Có thời gian, tại các quán bar, vũ trường, “mốt” tiêu khiển của một bộ phận giới trẻ là hít khí cười. Các “dân chơi” này không hề biết hậu quả của việc hít khí cười là chỉ có hại cho sức khỏe, thậm chí là tính mạng chứ hoàn toàn không có lợi lộc gì cả.
Dụng cụ đựng khí cười được gọi là Bóng cười (hay còn gọi là Funky ball hoặc Hippy crack) xuất hiện từ năm 2010 ở châu Âu và thời gian gần đây nó là “món ăn chơi lạ” của giới trẻ Việt Nam, đặc biệt là ở Hà Nội.
Bóng cười thực chất là quả bóng bay được bơm khí nitrous oxide (N,O). Dụng cụ bơm khí rất đơn giản, chỉ một bình khí nén nhỏ, hai chiếc hộp nhựa đựng bóng và một ống sắt. Người sử dụng dùng miệng ngậm vào đầu quả bóng, hít khí trong quả bóng (đã được bơm khícười) rồi lại thổi ngược ra cho quả bóng to lên, rồi lại hít khí, cứ như vậy lặp đi lặp lại khoảng 4 lần. Hít loại khí trong quả bóng này vào trong người sẽ có cảm giác tê tê, lâng lâng sau đó thì phấn khích và cười vật vã.
Khí cười là gì
 Bất cứ sinh viên dược khoa nào đã học môn Dược lý học phần thuốc gây mê đều biết khí cười. Chính tác dụng tạo cảm giác hưng cảm dễ chịu ở người hít nó đưa đến cười rộ lên mà ai học về nó một lần rồi cứ phải nhớ. Cách nay khá lâu, ca mổ song sinh Việt Đức các nhà phẫu thuật đã dùng khí cười do tính chất khá an toàn của nó so với nhiều chất gây mê khác.
Khícười là hợp chất vô cơ có tên nitrous oxide, công thức N,O, là chất khí không màu, có vị ngọt nhẹ. Sở dĩ gọi N,O là khí cười bởi vì khí này tác động lên một điểm của hệ thống thần kinh gây cười. Có giả thuyết khác cho rằng N.O gây phấn chấn đến độ phải cười ở người thì chưa rõ nhưng thử nghiệm trên mô hình ở chuột cống cho thấyN,O làm tăng bài tiết và hoạt hóa các tế bào dopaminergic sinh ra chất sinh học dopamine làm cho người ta cảm thấy sảng khoái.
Nhà hoá học Anh Humphry Davy là người đầu tiên khi nghiên cứu về các nitrogen oxide đã phát hiện ra N,O có tính chất sinh lý rất độc đáo, thậm chíkỳ cục là gây cười. Còn người ứng dụng N,O làm chất gây mê đầu tiên là nha sĩ Mỹ Horace Wells.
N,O gây vô cảm hoặc gây tê mê toàn thân nhưng không mất tri giác, vì thế nó là chất gây mê yếu. Muốn gây mê hoàn toàn, người taphải dùng N,O (thật ra là hỗn hợp N,O 50% + O,50%) phối hợp với thuốc mê đường tĩnh mạch hoặc đường hô hấp. N,O có thể gây buồn nôn, ói mửahậu phẫu. DùngN,O mộtmình chỉ để giảm đau trong nhổ răng ở trẻ con hoặc giai đoạn đầu của chuyển dạ ở phụ nữ mang thai.

Tác hại của khí cười khi lạm dụng làm chất tiêu khiển
 Sở dĩ các bạn trẻ thích hít khí cười qua sử dụng “bóng cười” vì nó giống như ma túy nhẹ tạo sự phấn khích vàảo giác. Nên lưu ý, khi hít khí cười qua bóng cười, cơ thể rất khó kiểm soát được lượng khí bởi bản thân người sử dụng lúc ấy không thể đong đếm được lượng khí hít vào. Tuy nhiên, một số chuyên gia khuyến cáo hít nhiều khí này chắc chắn sẽ bị ngộ độc, bị rối loạn trong cơ thể, thậm chí cả ung thư và và các rối loạn khác. Theo báo chí, vào năm 2010 diễn viên Mỹ Demi Moore sau khi hít loại bóng cười này trong những buổi tiệc đã phải nhập viện với triệu chứng co giật, run rẩy. Cuối năm 2012, một sinh viên trường Đại học Illinois (Mỹ) là Benjamin Collen, 19 tuổi đã tử vong vì bị ngạt khíN,O. Điều đáng nói nhất là là giới trẻ đã lạm dụng khí cười chỉ để tìm sự tê mê, lâng lâng trong cảm giác mà thực chất là ảo giác. Nhờ ảo giác mà các bạn trẻ cảm thấy hưng phấn, vừa hít bóng cười vừa ôm nhau nhảy trong tiếng nhạc ầm ĩ, cuồng loạn và thấy thế mới là cuộc vui đích thực. Nguy hại là nếu lạm dụng chất gây ảo giác lâu ngày sẽ rất dễ đi đến sử dụng thuốc gây nghiện thật sự, thậm chí là sử dụng ma túy. Bởi vì, khi đã quen với cảm giác “phê” với ảo giác, các bạn trẻ rất dễ và sau đó có sự cưỡng chế, tìm đến thứ tạo cảm giác “phê” mạnh hơn. Các bạn đã quen dùng khí để cười “phê” thì sẽ có lúc chơi thử “bồ đà”, “thuốc lắc”, “hàng đá", rồi chẳng mấy chốc sẽ chơi thủ heroin, từ hút đến tiêm chích, và rồi, chắc chắn sẽ dẫn đến nghiện tiêm chích ma túy cộng với sự nhiễm HIV/AIDS thì cửa tử không còn xa.

“HÀNG ĐÁ” ĐƯA ĐẾN CỬA TỬ !

Hiện nay, thanh thiếu niên chơi “hàng đá”, hàng đá là gì, xuất xứ từ đâu và vì sao gọi là hàng đá?
 “Hàng đá” hay còn gọi ma túy “đá” thực chất là một dẫn chất khác của amphetamine gọi là methamphetamine (trước đây còn xuất hiện với tên biệt dược là Methedrine nên còn được viết tắt là Met). Nên lưu ý amphetamine và các dẫn chất amphetamine (có MDMA tức thuốc lắc, có Met tức hàng đá và nhiều chất khác) được xếp loại là ma túy gây kích thích hệ thần kinh trung ương. Dân chơi ở xứ ta gọi hàng đá hay ma túy “đá” vì tiếng lóng dân chơi Anh Mỹ gọi là ICE (nước đá). Đặc biệt, thay vì được uống như thuốc lắc là dạng thuốc viên nén, hàng đá có dạng tinh thể kết tinh thành dạng phiến to trong suốt, trông như miếng nước đá, được đốt lên để hút hoặc, sẽ cho tác dụng “phê” nhanh và kéo dài hơn rất nhiều so với các dẫn chất amphetamin khác. Hàng đá được sử dụng nhiều vì việc tổng hợp sản xuất độc chất này khá dễ dàng (methamphetamine có thể tổng hợp hóa học dễ dàng từ tiền chất là ephedrin, pseudoephedrine, phenylpropanolamin là các dược chất có sẵn trong các thuốc trị cảm-sổ mũi). Là một dẫn chấtamphetamine, cho nên tác dụng và tác hại của hàng đá cũng tương tự như thuốc lắc.
Chơi hàng đá có gây nghiện như heroin, ma túy không?
Người ta dùng dùng thuốc lắc thìuống (dân chơi gọi là “cắn") còn dùng hàng đá không uống mà đốt lên hút (dân chơi gọi là “ục”) nhằm để nhảy nhót, lắc như điên cuồng thâu đêm suốt sáng. Điều đáng nói là không chỉ những người sử dụng mà ngay cả một số bạn trẻ đang còn đi học cũng mơ hồ về tác dụng thật sự của thuốc lắc và hàng đá. Nhiều người vẫn cho rằng đây là thuốc không gây nghiện như các loại ma túy khác và tác dụng kích thích của nó chỉ thoáng qua cho cuộc vui và tác hại thì không đáng ngại. Thực chất đây là thuốc gây nghiện thuộc loại nguy hiểm. Dùng chúng chẳng chóng thì chầy sẽ đi dùng heroin và ma túy khác.
Ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe?
Về mặt hóa học, thuốc lắc là chất được tìm từ đầu thế kỷ 20, với cấu trúc là 3-4-methylenedioxy methamphetamine (viết tắt MDMA). Còn hàng đá là một dẫn chất khác của amphetamine gọi là methamphetamine bị lạm dụng sau thuốc lắc. Và tác hại của chúng là cũng giống nhau. Thuốc lắc và hàng đá không được dùng như thuốc trong lĩnh vực điều trị mà lại được dùng như loại “thuốc cấm” mang khoái cảm, ảo giác đến cho người nghiện. Rất gần đây, sự lạm dụng thuốc lắc và hàng đá ngày càng tăng vì có quan niệm sai lầm cho rằng mặc dù có thuốc cấm nhưng so với ma túy và các chất gây nghiện khác, thuốc lắc an toàn! Theo nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 1990 tại một trường đại học bên Mỹ, sự lạm dụng một vài ma túy trong giới sinh viên có giảm, nhưng một vài loại khác thì tăng, trong đó thuốc lắc và hàng đá bị lạm dụng đã tăng từ 16% lên 24%. ở Úc, trong các buổi dạ vũ của giới trẻ ở bờ biển, thuốc lắc đã được dùng thoải mái. ỞIndonesia, chỉ trong vài tháng, đã có ít nhất 500.000 viên thuốc lắc lưu hành bất hợp pháp, đã có ít nhất 6 người chết vì dùng thuốc này, và báo chí hằng ngày đều đưa tin về việc sử dụng thuốc lắc ở nước được xem là quốc gia Hồi giáo đông nhất trong thời gian mấy năm nay.
Trái với lời đồn đãi trong giới nghiện cho rằng thuốc lắc và hàng đá “an toàn”, các cuộc thử nghiệm khoa học cho thấy đây là hợp chấthoàn toàn độc hại. Về mặt tác dụng dược lý, khi thử trên súc vật, thuốc lắc và hàng đá cho thấy có tác dụng hỗn hợp của sự kích thích hệ thần kinh trung ương và gây áo giác bằng cách ảnh hưởng đến các chất sinh học trung gian của não là serotonin và dopamin, đặc biệt đối với serotonin. Do tác động đến chức năng “sinh serotonin” của não mà thuốc lắc và hàng đá gây nên hội chứng gọi là “hội chứng serotonin” (serotonin syndrome) gây thay đổi cách cư xử, thái độ, thuốc lắc và hàng đá còn gây tăng thân nhiệt (người nóng lên như bịsốt). Thử trên chuột cống đực, sựsử dụng lặp đi lặp lại thuốclắc làm thay đổi hành vi tình dục, có kéo dài thời gian trước khi xuất tinh. Nhưng quan trọng hơn hết là nó gây độc tính đối với não. Nó làm giảm trữ lượng serotonin ở nhiều vùng trên não, phá hủy đầu tận cùng dây thần kinh sinh ra serotonin (serotonergic nerve terminals). Trong vòng 2-3 năm gần đây, đã có nhiều báo cáo cho biết thuốc lắc gây ngộ độc cấp và làm tử vong nhiều người sử dụng nó có lẽ do gây độc tính đối với não như vừa kể. Chính tác dụng gây tăng thân nhiệt cũng góp phần làm tử vong người lạm dụng thuốc lắc và hàng đá. Đặc biệt, người ta ghi nhận chính sự sử dụng thuốclắc trong các buổi dạ vũ tập thể (được gọi là “raves”), với âm thanh đinh tai nhức óc, nhiệt độ do đám đông chen chúc, sự mất nước do nhảy múa cuồng loạn gây đổ mồ hôi, cộng với sự tăng thân nhiệt do tác dụng thuốc lắc làm cho các đồ đệ của chất gây nghiện này dễ gục xuống cận

CÁC MỨC ĐỘ CỦA NGHIỆN THUỐC

Phân loại mức độ gây nghiện của các chất
Trazodone là thuốc chống trầm cảm. Trazodone còn có tác dụng an thần giải lo, gây ngủ nên có khi được dùng làm thuốc ngủ. Trazodone được xem là thuốc gây nghiện nhưng tác dụng gây nghiện của nó thuộc loại rất yếu, yếu hơn so với một thuốc ngủ gây nghiện là diazepam và yếu hơn rất nhiều so với thuốc gây nghiện mạnh là morphin. Dùng trazodone lâu ngày làm người bệnh không bỏ được thuốc này nhưng trazodone chỉ gây lệ thuộc về mặt tâm lý (điển hình của lệ thuộc tâm lý là nghiện hút thuốc lá) chứ không gây lệ thuộc thể chất (điển hình của lệ thuộc thể chất và cả lệ thuộc tâm lý là nghiện ma túy, người nghiện nếu thiếu ma túy sẽ vật vã dữ dội). Tính chất gây nghiện rất yếu của trazodone còn thể hiện ở chỗ nó được xếp vào bảng thứV tức chót hết theo bảng phân loại chất gây nghiện của Mỹ và một số quốc gia khác. Bảng phân loại mức độ gây nghiện của các chất được gọi là Bảng các chất cần phải kiểm soát (Controlled Substance Schedule) thường viết tắt là Schedule (Bảng) gồm bảng I đến bảng V như sau:
 - Bảng I: gồm các chất gây nghiện dữ dội và là chất cấm, nếu dùng là phạm pháp, thí dụ:heroin, cần sa, MDMA (tức thuốc lắc), methamphetamine (tức hàng đá) v.v...
- Bảng II: gồm các chất gây nghiện dữ dội nhưng có thể dùng trong điều trị bệnh, như morphin, methadon, secobarbital...
- Bảng III: gồm các chất gây nghiện trung bình, như codein dùng liều trung bình (phối hợp với thuốc khác như biệt dược Efferalgan-Codeine kết hợp paracetamol và codein)... - Bảng IV: gồm các chất gây nghiện yếu như thuốc an thần gây ngủ diazepam, hay các thuốc khác thuộc nhóm benzodiazepin...
 - Bảng V: gồm các chất gây nghiện rất yếu như diphenoxylat (có trong thuốc trị tiêu chảy Lomotil), trazodone...
Như vậy, tham khảo Bảng các chất cần phải kiểm soát ta biết được mức độ gây nghiện của các chất gây nghiện. Chất thuộc Bảng 1 không chỉ gồm các chất có mức độ gây nghiện dữ dội mà đó là chất không được dùng trong trị bệnh và bị cấm dùng bất cứ lý do gì, nếu dùng là vi phạm pháp luật. Thuốc lắc và hàng đá được đề cập trong bài trước thực chất thuộc loại gây nghiện yếu nhưng lại được phân vào Bảng 1 tức là loại cấm dùng. Bởi vì thuốc lắc và hàng đá, tuy không gây nghiện mạnh mẽ như như heroin nhưng cũng làm cho người nghiện nó khốn đốn và làm băng hoạixã hội. Dùng thuốc lắc và hàng đá lâu ngày do tính chất “lờn thuốc” của sự nghiện sẽ dần đi đến dùng ma túy mạnh hơn là heroin, dùng đường uống, hút rồi sẽ đi đến dùng đường tiêm chích để “phê” nhanh, mạnh hơn. Và khi dùng độc chất ma túy bằng con đường tiêm chích sẽ không chóng thì chầy đi vào cửa “tử” vì bị nhiễm HIV/AIDS. Còn trazodone được phân vào Bảng 5, tức là chất gây nghiện rất yếu, thể hiện bằng việc cai nghiện trazodone dễ hơn nhiều so với cai nghiện ma túy là heroin.
Hiện tượng “phụ thuộc thuốc”
Trong sử dụng thuốc có tình trạng người dùng thuốc dùng một số thuốc kéo dài, tuy thuốc không thuộc loại gây nghiện nhưng có hiện tượng giống như nghiện thuốc, tức không thể ngưng bỏ mà phải tiếp tục dùng thuốc. Khi người bệnh bị các bệnh lý cơ xương khớp mạn tính phải dùng thuốc chống viêm giảm đau lâu ngày như dùng thuốc loại glucocorticoid (dexamethason, prednisolon..), thuốc chống viêm không steroid (diclofenac, ibuprofen, celecoxib...), thậm chí thuốc thông thường là paracetamol, aspirin và cứ thế dùng mãi. Nếu ngưng bỏ thuốc, người bệnh không chịu được vì sự đau nhức rất khó chịu. Tình trạng này không gọi là nghiện thuốc mà nên tạm gọi là “phụ thuộc thuốc”. Phụ thuộc thuốc chống viêm giảm đau có thể gây tác hại vì thuốc loại này luôn là con dao hai lưỡi, một lưỡi là làm cho hết đau (kèm theo sảng khoái và người ta gần như “nghiện” thuốc chính vì sảng khoái này) nhưng lưỡi thứ hai là gây các tác dụng phụ có hại rất trầm trọng (glucocorticoid ai cũng biết tác dụng có hại của nó). Để giải quyết vấn đề “phụ thuộc thuốc”, bác sĩ sẽ chỉ định thuốc dùng an toàn và hợp lý, để lúc nào đó có thể cắt bỏ thuốc được.
Phụ thuộc thuốc còn gặp ở thuốc trị hen suyễn. Bệnh hen suyễn là bệnh mạn tính, không thể trị khỏi hoàn toàn, chỉ có thể kiểm soát. Tức không thể dứt bỏ hoàn toàn việc dùng thuốc mà bác sĩ cho dùng thuốc đúng bài bản để kiểm soát và không gây hại người bệnh. Trị hen suyễn đúng bài bản hiện nay là bác sĩ cho dùng thuốc dự phòng là chủ yếu kết hợp với điều trị cắt cơn; cho dùng thuốc dạng “hít” là chủ yếu thay vì uống hay chích để thuốc cho tác dụng tại chỗ là đường hô hấp ít gây tác dụng phụ hơn.
Phụ thuộc thuốc còn gặp ở thuốc trị táo bón. Dùng thuốc trị táo bón lâu ngày, người bệnh bị phụ thuộc, không dùng thuốc là không đi tiêu được. Nguy hại hơn là thuốc (nhất là thuốc trị táo bónkích thích) gây hại nhiều thứ, trong đó gây hại niêm mạc ruột rất dữ. Chính nhờ bác sĩ khám, vạch ra phương án xử lý và chỉ định thuốc trịtáo bón tối ưu mà giải quyết được vấn đềphụ thuộc thuốc trị táo bón.
Phòng tránh nghiện và phụ thuộc thuốc
Để phòng tránh nghiện thuốc và phụ thuộc thuốc, người dùng thuốc nên lưu ý mấy điều sau:
 - Chỉ thật cần thiết mới mới dùng thuốc. Hoàn toàn không nên lạm dụng thuốc kể cả thực phẩm chức năng. Đừng nghe lời mách bảo của người không thuộc giới chuyên môn mà dùng thuốc nào đó kéo dài từ tháng này sang tháng kia.
- Nếu được bác sĩ khám ghi đơn thuốc, phải dùng đúng, dung đủ (không dư không thiếu) các thuốc ghi trong đơn và thực hiện tốt các lời chỉ dẫn.
- Không tìm cách mua dùng thuốc loại kê đơn (tức loại có đơn thuốc của bác sĩ mới được mua).
- Trước khi dùng một thuốc, cần đọc kỹ bản hướng dẫn hoặc hỏi dược sĩ tại nhà thuốc về những điều cần biết, trong đó có: tác dụng phụ, những thận trọng khi dùng thuốc, chống chỉ định (tức những trường hợp không được dùng thuồc)
- Nên xem việc điều trị bệnh không chỉ hoàn toàn dựa vào thuốc. có phương pháp điều trị gọi là không dùng thuốc và ngay cả chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý, dinh dưỡng thích hợp cũng có thể góp phần cải thiện tình trạng bệnh.

NGHIỆN THUỐC : CHUYỆN KHÔNG NHỎ

Một bạn đọc nữ bị bệnh mất ngủ nhiều năm và được bác sĩ khám, chẩn đoán bị “Rối loạn lo âu”. Bà được chỉ định dùng nhiều thuốc, trong đó có trazodone. Đặc biệt, bà tự cho là mình bị nghiện trazodone vì từ bốn năm nay phải thường xuyên uống thuốc đó (1 viên Trazodone50mg) vào ban đêm để ngủ, kể cả lúc không được bác sĩkê đơn chỉ định bà tự ý muatrazodone về dùng và cho biết “không thể bỏ được” (bà không ghi nhưng có thể hiểu nếu không dùng thuốc bà không ngủ được). Bà viết thư hỏi về tình trạng không bỏ được thuốc này có phải là “nghiện thuốc”.
Trong năm 2011, BVTâm thần TPHCM nhập viện cấp cứu 113 bệnh nhân và 560 bệnh nhân đến khám điều trị ngoại trú vì các triệu chứng hoang tưởng ảo giác và rối loạn hành vi liên quan đến sử dụng ma túy, trong đó có “thuốc lắc” và “hàng đá”. Hiện nay, người ta thường dùng thuốc lắc bằng cách uống (dân chơi gọi là “cắn”) còn dùng hàng đá không uống mà đốt lên hút (dân chơi gọi là “ục”) nhằm để nhảy nhót, lắc như điên cuồng thâu đêm suốt sáng. Điều đáng nói là không chỉ những người sử dụng mà ngay cả nhiều bạn trẻ đang còn đi học cũng mơ hồ về tác dụng thật sự của thuốc lắc và hàng đá. Nhiều người vẫn cho rằng đây là thuốc không gây nghiện và tác dụng kích thích của nó chỉ thoáng qua cho cuộc vui và tác hại thì không đáng ngại. Thực chất, thuốc lắc và hàng đá có gây hiện tượng “nghiện thuốc” thuộc loại nguy hiểm.
“NGHIỆN THUỐC” LÀ Gì?
Nghiện thuốc là tình trạng không ngưng bỏ mà bắt buộc phải tiếp tục dùng thuốc (trước đây nước ngoài gọi là “drug addiction” nay gọi là “drug dependence” tức là bị “lệ thuộc thuốc”). Nghiện thuốc được định nghĩa là “tình trạng sử dụng thuốc kéo dài lặp đi lặp lại một cách bắt buộc nhằm có được tác dụng (kể các tác dụng gây sảng khoái của thuốc) hoặc để tránh sự khó chịu vật vã do thiếu thuốc”. Nghiện thuốc có 3 đặc tính:
- Gây sự lệ thuộc về mặt tâm lý phải sử dụng thuốc bằng bất Cứ giá nà0.
- Gây sự lệ thuộc về mặt thể chất nên nếu ngưng không tiếp tục dùng thuốc sẽ bị “hội chứng cai thuốc” gây vật vã, rối loạn nghiêm trọng làm người nghiện không bỏ được thuốc. Thí dụ, khi đã nghiện ma túy là heroin nếu ngưng dùng sẽ bị hội chứng cai thuốc: giãn đồng tử, nhịp tim nhanh là triệu chứng ngược lại với tác dụng của thuốc là làm co đồng tử, nhịp tim chậm (nhờ quan sát triệu chứng mà bác sĩ phân biệt người nghiện bị ngộ độc do quá liều hay bịhội chứng cai thuốc do thiếu thuốc).
 - Gây sự lờn thuốc, phải tăng liều (tức liều dùng sau phải sau phải cao liều dùng lần trước mới thấy có tác dụng).

Những chất nào gây nghiện thuốc?
Ở ta, ma tuýlà từ chỉ các chất gây ra sự đê mê, nghiện ngập. Trước đây, ma túy được dùng theo định nghĩa hẹp để chỉ thuốc phiện và dẫn chất của nó như morphin, heroin và các dẫn chất có nguồn gốc thiên nhiên được gọi là opiat hoặc một số thuốc được tổng hợp bằng phương pháp hóa học dựa trên cấu trúc của morphin được gọi chung là opioid. Nhưng hiện nay dân nghiện sử dụng khá nhiều thuốc, cho nên ma tuý được dùng với nghĩa rộng hơn, nó có thể bao hàm nhiều chất mà dân nghiện sử dụng, thậm chí có những chất ngoài đặc tính gây khoái cảm và gây sự lệ thuộc còn có một số tính chất dược lý hoàn toàn đối kháng với opiat, opioid, đó là thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương. Có thể phân loại các chất gây nghiện như sau.
Những chất là ma túy thật sự
Thuốc phiện (còn gọi là á phiện, opium, nha phiến) là nhựa trích ra từ quả cây thuốc phiện (cây thẫu, tên khoa học: Papaver somniferum, họ Papaveraceae), morphin (hoạt chất chính trích ra từ thuốc phiện), heroin (còn gọi là xì kexuất phát từ tiếng lóng “scag”, bạch phiến, hàng trắng), meperidin (biệt dược Dolargan, Demerol), pethidin (Depridol, dùng cai nghiện heroin), cocain (trích từ cây Coca - Erythroxylon coca, họ Erythoxylaceae).
Như vậy, ta thấy những chất là ma túy thật sự có thể là hợp chất thiên nhiên như morphin, bán tổng hợp như heroin, và có thể là hợp chất hoàn toàn tổng hợp như pethidin, methadon.
Những chất gây ảo giác (Hallucinogens, Psychedelics)
Gọi là chất gây ảo giác là chất khi sử dụng đưa vào cơ thể sẽ gây nên sựhư hỏng tạm thời về mặt ý thức, nhận định sai lạc về không gian và thời gian. Gồm có: Cần sa (còn gọi bồ đà, tên khoa học Cannabis sativa họ Cannabaceae), LSD (viết tắt của lysergic acid diethylamide), mescaline, psilocybin (LSD, mescaline, psilocybin chỉ dùng phổ biến ở các nước Âu Mỹ).
Những chất kích thích thần kinh trung ương (Stimulants)
Amphetamine (Maxiton, được dùng phổ biến để thức chống lại buồn ngủ trong giới học sinh, sinh viên trước đây để học thi và nhiều người lạm dụng đến nỗi bị suy nhược tâm thần), methylphenidate (Ritalin, trị chứng tăng động giảm sự chú ý ở trẻ). Nói chung, các chất thuốc nhóm kích thích hệ thần kinh trung ương, mặc dù có tính chất đối kháng với ma túy vẫn gây khoái cảm và gây nghiện thuốc. Người nghiện thường kết hợp các chất này với ma túy (như kết hợp Maxiton và thuốc phiện) vừa để tăng cảm giác khoái cảm vừa được tỉnh táo. Hiện nay đang báo động về việc lạm dụng các chất là dẫn chất amphethamin là thuốc lắc và hàng đá. Thuốc lắc là 3-4-methylenedioxymethamphetamine (viết tắt MDMA). Hàng đá là một dẫn chất khác củaamphetamine gọilà methamphetamine. Dân chơi ở xứ ta gọi hàng đá hay ma túy “đá” vì tiếng lóng dân chơi Anh Mỹ gọi là ICE (nước đá). Đặc biệt, thay vì được uống như thuốc lắc là dạng thuốc viên nén, hàng đá có dạng tinh thể kết tinh thành dạng phiến to trong suốt, trông như miếng nước đá, được đốt lên để hút hoặc, sẽ cho tác dụng “phê” nhanh và kéo dài hơn rất nhiều so với các dẫn chấtamphetamin khác. Hàng đá được sử dụng nhiều vì việc tổng hợp sản xuất độc chất này khá dễ dàng (methamphetamine có thể tổng hợp hóa học dễ dàng từ tiền chất là ephedrin, pseudoephedrine, phenylpropanolamin là các dược chất có sẵn trong các thuốc trị cảm-sổ mũi).
Những chất ức chế thần kinh trung ương
Nhóm thuốc ngủ barbiturat: Trước đây có khoảng 50 barbiturat khác nhau dùng trong trị liệu như barbital (Véronal), phenobarbital (Luminal, Gardenal), amobarbital (Nembutal)... Trường hợp nghiện đầu tiên (1904) là nghiện Vénonal. Ở miền Nam, trước đây thường nghiện: secobarbifal (Séconal, tiếng lóng sì cọt), binoctal (Immenoctal+ Amobarbital)... Nhóm thuốc an thần gây ngủ benzodiazepin: diazepam (Valium, Seduxen), clordiazepoxid (Librium)... Hiện nay, dân nghiện hay dùng rohypnol (rô hồng). Ngoài các chất gây nghiện kể trên, còn có các chất gây lệ thuộc khác hoặc được dùng hợp pháp (như rượu, thuốc lá) hoặc không bị lạm dụng nhiều ở nước ta (đó là dung môi bay hơi như nghiện hít toluen, amyl nitrit, kerosen...).
Đối với trường hợp bạn đọc nữ viết thư hỏi nêu trên, rõ ràng đã có sự lệ thuộc thuốc trazodone. Trazodone được xem là thuốc gây nghiện nhưng tác dụng gây nghiện của nó thuộc loại như thế nào? Còn thuốc lắc, hàng đá mà nhiều người vẫn cho rằng đây là thuốc không gây nghiện và tác dụng kích thích của nó chỉ thoáng qua cho cuộc vui và tác hại thì không đáng ngại? Có thật như vậy không?

TIỀN CHẤT DÙNG LÀM THUỐC LÀ GÌ ?

Trong thời gian gần đây, nhiều phương tiện thông tin đại chúng đưa tin việc tiền chất pseudoephedrine (viết tắt PSE) có trong thành phần thuốc trị cảm cúm nghi ngờ bị lạm dụng để sản xuất ma túy tổng hợp. Pseudoephedrin là một trong những chất gọi là tiền chất dùng làm thuốc. Thế chất này là chất gì mà đòi hỏi phải có sự kiểm soát hết sức chặt chẽ? Tiền chất trong tiền chất dùng làm thuốc dùng để chỉ hóa chất cần có trước để từ đó sản xuất một ma túy nào đó. Đây là chất nhờ nó sẽ thực hiện phản ứng hóa học đơn giản hơn để tổng hợp ma túy thay vì phải thực hiện nhiều phản ứng phức tạp nếu đi từ đầu mà không thông qua tiền chất. Cần lưu ý, tiền chất dùng làm thuốc không phải là chất gây nghiện hay ma túy (nhiều thông tin đại chúng cứ gọi pseudoephedrine là chất gây nghiện) mà là chất từ đó người ta chế tạo ma túy. Mặt tích cực là tiền chất dùng làm thuốc nếu được mua bán, sử dụng đúng quy chế thì đó là thuốc phục vụ công tác khám chữa bệnh, nhưng lại có mặt tiêu cực là tiền chất dùng làm thuốc có thể bị lợi dụng vào việc sản xuất bất hợp pháp ma túy. Ngoài tiền chất dùng làm thuốc còn có những tiền chất khác không được Bộ y tế quản lý mà được Bộ Công thương quản lý, được gọi chung là tiền chất. Năm 2001, Bộ Y tế đã ban hành danh mục tiền chất dùng làm thuốc gồm các chất sau: ephedrine, pseudoephedrine, ergometrine, ergotamine, phenylpropanolamine. Đây là những chất có cấu trúc hóa học gần như tương tự với cấu trúc nhóm ma túy có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương là amphetamine và dẫn chất amphetamine. Có 2 ma túy tổng hợp đang rất thông dụng hiện nay đó là “thuốc lắc” và “ma túy đá”. “Thuốc lắc” chính là methylen-dioxy-methamphetamine (viết tắt là MDMA, nước ngoài gọi là ecstasy), còn “ma túy đá” là methamphetamine (MA), cả hai là dẫn chất amphetamine. Các tiền chất dùng làm thuốc có cấu trúc hóa học khá giống amphetamine. Như cấu trúc và là tên hóa học của amphetamine là l-phenyl-2-aminopropan còn pseudoephedrine là 1-phenyl-2-methylaminopropanol, hai chất này đúng là khá giống nhau. Nếu việc quản lý dự trù mua bán thuốc chứa pseudoephedrine hay các tiền chất khác nằm trong danh mục không chặt chẽ sẽ dẫn đến kẻ gian dùng thuốc này chiết xuất lấy tiền chất như pseudoephedrine ra khỏi thuốc và thực hiện một vài phản ứng hóa học để biến tiền chất dùng làm thuốc này thành thuốc lắc MDMA hay ma túy đá MA là 2 ma túy tổng hợp gây tác hại khá nghiêm trọng ở nước ta hiện nay. Pseudoephedrine nếu dùng đúng sẽ là thuốc cho tác dụng gì? Đây là thuốc có tác dụng cường giao cảm thần kinh (hay trực giao cảm thần kinh) làm co mạch, chống sung huyết niêm mạc mũi, làm nước mũi hết chảy ràn rụa. Do vậy, pseudoephedrine được dùng như một thành phần trong thuốc trị cảm cúm, sổ mũi, trong thuốc hỗ trợ trị viêm xoang, viêm mũi. Cũng do tác dụng cường giao cảm thần kinh (có thể gây tăng huyết áp, loạn nhịp tim) mà thuốc chứa pseudoephedrine không được dùng ό người bị bệnh tăng huyết áp hoặc dùng thận trọng ở người bị | bệnh mạch vành, bệnh tuyến giáp, đái tháo đường. Một tiền chất dùng làm thuốc cũng có tác dụng giống như pseudoephedrine là phenylpropanolamine (PPA) đã bịnhiều nước cấm sử dụng (nước ta hiện nay cũng bắt đầu cấm sử dụng và cấm lưu hành PPA).
Ephedrine được dùng trong đông y với tên là ma hoàng. Trước đây, ephedrine được dùng làm thuốc trị hen suyễn nhưng nay không còn dùng. Ở các nước phương tây, ma hoàng được dùng làm thực phẩm chức năng để hỗ trợ giảm cân và đã bị cảnh giác vì gây tai biến tim mạch ởngười sử dụng. Ergometrine được dùng làm thuốc dự phòng và điều trị băng huyết sau sanh hoặc sẩy thai. Còn ergotamine là thuốc trị chứng nhức nửa đầu.
Bộ Y tế nước ta đã có khuyến cáo các đơn vị sản xuất dược phẩm nghiên cứu thay thế tiền chất pseudoephedrine bằng hoạt chất khác như phenylephrine, xây dựng và triển khai công tác tuyên truyền việc lạm dụng pseudoephedrine trong nhân dân, trong các doanh nghiệp, các đơn vị hoạt động có liên quan đến pseudoephedrine, nhất là khâu xuất nhập khẩu, lưu thông, phân phối, bảo quản, mua bán,... nhằm kiểm soát pseudoephedrine đến sản phẩm cuối cùng đưa đến tay người tiêu dùng.

THUỐC ẢO GIÁC GÂY ĐỘC HẠI

Thời gian qua, thông tin nhiều nữ sinh ở một trường tại quận 4, TPHCM, đã bị ép uống thuốc Recotus được sự quan tâm rất nhiều của dư luận. Trước đây không lâu, nhiều phụ huynh rất lo ngại vì có tình trạng không ít các em học sinh bị dụ dỗ tìm mua thuốc Recotus để “phê”. Vì sao có tình trạng dụ dỗ, lạm dụng và bị ép buộc dùng thuốc Recotus và Recotus là loại thuốc gì?
Thuốc Recotus thực chất là thuốc trị ho trong các trường hợp: Ho do cảm lạnh, cảm cúm, viêm phổi, viêm phế quản... nhờ chứa 3 dược chất: Dextromethorphan được xem là dược chất chính, là một dẫn chất thuộc nhóm thuốc phiện có tác dụng chống ho bằng cách ức chế trung tâm ho ở hành tủy trên não, hai dược chất còn lại là diprophyllin có tác dụng làm giãn phế quản do đó làm giảm ho do co thắt phế quản, lysozym là một enzyme có tác dụng kháng khuẩn bằng cách làm dung giải màng tế bào vi khuẩn. Riêng dextromethorphan là một dẫn xuất (tức có cấu trúc hóa học gần tương tự) của morphin không gây nghiện như các thuốc khác thuộc nhóm thuốc phiện (như codein cũng trị ho và gây nghiện), tuy nhiên dùng lâu ngày vẫn có thể bị lệ thuộc (tức làm người bệnh thấy khó chịu cứ muốn dùng thuốc). Ngoài tác dụng làm giảm ho, dextromethorphan còn có tác dụng phụ khác như: gây ngủ gật, gây ảo giác đặc biệt khi dùng liều cao. Còn diprophyllin là dẫn xuất của theophyllin, có tác dụng làm giãn phế quản do làm giãn cơ trơn, kích thích thần kinh trung ương gây hưng phấn và có thể gây ảo giác, nhưng lại có tác dụng trực tiếp lên tim, huyết áp nên dùng quá liều sẽ gây tăng nhịp tim, loạn nhịp tim, tăng huyết áp rất nguy hiểm. Như vậy, dùng Recotus ở giới trẻ có khả năng có trạng thái lâng lâng, ảo giác và vì không được hướng dẫn sẽ có nguy cơ quá liều. Nếu dùng Recotus quá liều có thể bị buồn nôn, nôn, buồn ngủ, nhìn mờ, rung giật nhãn cầu, bítiểu tiện, mất điều hòa, suy hô hấp, co giật. Cách đây không lâu, một số học sinh lợi dụng tác dụng phụ gây ngủ gà ngủ gật của Recotus và dùng nó để được đưa lên phòng y tế của nhà trường để “nghỉ ngơi”, không phải trả bài đầu giờ vì không thuộc bài. Nguy hại hơn là các em rỉ tai nhau về tác dụng gây ảo giác của Recotus, đã dùng thuốc để có cảm giác “phê” lâng lâng, để được sảng khoái, có được “sự hưng phấn”, không lo sợ khi trả bài. Một số lạm dụng Recotus là do rỉ tai với nhau là thuốc tạo sự thông minh, giúp tăng trí nhớ, thật sự không phải như vậy.
Như vậy đã có sự lạm dụng thuốc ở giới trẻ nói chung, trong đó có các học sinh, chủ yếu là nhằm có các tác dụng gọi là ảo giác. Chất gây ảo giác nói chung, trong đó có thuốc gây ảo giác, được xem là chất khi sử dụng sẽ gây hư hỏng tạm thời về mặt ý thức đưa đến sự nhận định sai lệch, méo mó về không gian, thời gian. Có những chất gây ảo giác thật sự và là chất cấm, như cần sa (tiếnglóng hiện nay gọi là bồ đà). Có những chất là ma túy thật sự lại gây ảo giác, như thuốc phiện, heroin (tức bạch phiến, hàng trắng), cocain. Có những chất kích thích cũng gây ảo giác, như amphetamine, “thuốc lắc” (tức ecstasy, MDMA: methylendioxy methamphetamin), “hàng đá” (methamphetamin). Nay có thuốc loại thông thường, được bán tự do nhưng có thể gây ảo giác như Recotus đang và sẽ gây khốn khổ cho các phụ huynh có con em lạm dụng nó.
Vì sao giới trẻ lại tìm đến hoặc bị dụ dỗ, thậm chí là bị ép buộc dùng chất gây ảo giác? Dựa vào đặc điểm của lứa tuổi này, người ta cho rằng giới trẻ sử dụng chấtảo giác vì sự tò mò, sự đua đòi bắt chước ở một số thanh thiếu niên hoặc vì muốn trải qua cảm giác được làm một việc bị ngăn cấm. Còn có một số yếu tố bên ngoài tác động vào giới trẻ có thể kể như: sự lôi cuốn rù quến của bạn bè, sự bất hòa không yên ấm trong gia đình, áp lực của việc học tạo sự chán nản, lo âu. Ta cũng cần ghi nhận có tình trạng dụ dỗ hay ép buộc giới trẻ dùng chất gây ảo giác. Cần nên biết, bọn gian mua bán ma túy luôn tìm cách tiêu thụ càng nhiều càng tốt hàng cấm của chúng. Cách nay mấy chục năm, người viết đã có bài báo cảnh báo tệ nạn tiêm chích ma túy ngay trước cổng một số trường học, mời mọc giới trẻ dùng thử ma túy để bọn bán ma túy bán nhiều hơn. Nay có thể bọn gian thay đổi phương cách tiếp thị. Ban đầu bọn chúng dụ dỗ hay ép buộc các em học sinh dùng những thứ có vẻ không hại gì nhưng gây ảo giác (như Recotus). Nguy hại là nếu lạm dụng chất gây ảo giác lâu ngày sẽ rất dễ đi đến sử dụng thuốc gây nghiện, thậm chí là sử dụng ma túy. Bởi vì, khi đã quen với cảm giác “phê” với ảo giác, các em rất dễ và sau đó có sự cưỡng chế, tìm đến thứ tạo cảm giác “phê” mạnh hơn. Các em đã quen dùng Recotus để “phê” thì sẽ có lúc chơi thử “bồ đà”, “thuốc lắc”, “hàng đá”. Đến lúc này sẽ chơi thử heroin, từ hút đến tiêm chích, và rồi, chắc chắn sự nhiễm HIV/AIDS đến để gióng hồi chuông báo tử. Bọn gian buôn bán ma túy có quan tâm gì đến các tác hại nghiêm trọng vừa kể đâu, chúng chỉ vỗ tay sung sướng vì bán được ma túy. Vụ việc nhiều nữ học sinh bị ép uống Recotus ở quận 4 vừa mới đây cần được xem là sự cảnh tỉnh rất nghiêm trọng.
Nhân đây, xin nói thêm về việc phòng chống lạm dụng thuốc độc hại ở giới trẻ, đặc biệt là các học sinh. Gia đình phải là nơi đầu tiên kiểm soát việc dùng thuốc ở trẻ. Cần quản lý chặt chẽ tủ thuốc gia đình cũng như theo dõisát các biểu hiện bất thường khi trẻ lạm dụng thuốc tác động lên hệ thần kinh (lừ đừ, buồn ngủ). Nhà trường cần phối hợp với ngành y tế để có các buổi sinh hoạt giới thiệu kiến thức cơ bản về dùng thuốc cho trẻ, hướng đến xây dựng môn học “Sức khỏe học đường” (có phần đề cập đến tác hại của ma túy, tác hại của dược phẩm, trong đó có thuốc kê đơn và cả thuốc không kê đơn như Recotus, nếu dùng không đúng thì tác hại là khôn lường). Các nhà thuốc quản lý chặt hơn việc bán thuốc, nếu giới trẻ, đặc biệt là các em học sinh mua thuốc, phải sàng lọc hỏi thật kỹ, nếu có gì nghi ngờ như trường hợp mua thuốc Recotus không dùng vào mục đích điều trị thì cương quyết không bán.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU

Thức uống có rượu được dùng rất nhiều hiện nay chính là bia.
Rượu và bia khác nhau ở chỗ chứa độ cồn khác nhau. Chất làm người ta say xỉn chứa trong rượu và cả trong bia là ethanol tức cồn ethylic. Rượu chứa cồn cao độ, như rượu đếhay Whiskey chứa cồn 40% hay trên, trong khi bia chứa cồn thấp độ, chứa 2-4%. Bởi chứa cồn thấp nên người ta dễ hiểu lầm uống bia nhiều chẳng việc gì. Có người còn ví von bia là cô gái hiền hậu hấp dẫn nhưng thật ra, uống bia quá nhiều cũng không tốt, ta cần xem bia là kẻ nham hiểm chứ không phải hiền hậu hấp dẫn. Khi nói đến tác hại của rượu cần phải hiểu đó chính là tác hại của RUỢUBIA.
Rượu bia là kẻ nham hiểm bởi vì nó không làm cho kẻ uống nó ngộ độc tức khắc (trừ trường hợp ngộ độc nặng như kiểu uống rượu dỏm chứa độc chất methanol đưa đến tử vong) mà phá hủy cơ thể người dùng nó một cách ngấm ngầm, để đến lúc nào đó trở thành người nghiện rượu gục xuống trong cơn bạo bệnh không thể cứu chữa được. Cơ quan chịu tác động nhiều nhất của rượu là hệ thần kinh trung ương (uống rượu lâu dài sẽ bị nghiện rượu là bệnh được xếp vào nhóm “bệnh tâm thần” ngang hàng của nghiện ma túy), kế đến là gan (dễ bị xơ gan), rồi đến dạ dày tá tràng (bị viêm loét dạ dày-tá tràng, xuất huyết tiêu hóa), v.v...
Rượu bia có cung cấp năng lượng nhưng lại là năng lượng “vô bổ”, tạo phản ứng đốt cháy trong cơ thể để người uống rượu bia có cảm giác nóng bừng lên thôi, chứ không thêm sức lực. Người uống rượu bia thấy nóng, có vẻ chịu được rét nhưng xin lưu ý hiện tượng có cảm giác nóng bừng là do rượu làm giãn mạch máu (uống thấy mặt đỏ là vậy), có tác dụng tải nhiệt qua da chứ không làm tăng thân nhiệt để chịu lạnh rét. Chính hiện tượng này làm người uống rượu bia dễ mất cảnh giác không sợ lạnh, ngủ mình trần rất dễ bị cảm lạnh mà nhiều người gọi là “trúng gió”. Ta nên lưu ý hiện tượng này để đừng uống say xỉn quá, ngủ bạ đâu đó, không có sự che đắp cần thiết đưa đến bệnh hoạn.
Nhiều người trông thấy kẻ uống rượu bia như bị “kích thích”, nói năng có khi bất chấp, dám có những hành động bình thường không dám làm nên tưởng rằng rượu có tác dụng “kích thích”. Thực ra, rượu bia chỉ có tác dụng “ức chế” (trong Dược lý học, rượu được xếp vào nhóm thuốc gây mê tức nhóm thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương). Rượu bia ức chế vùng vỏ não điều khiển sự tự chủ, biết kiềm chế của chúng ta. Nếu vùng vỏ não này bị ức chế, ta sẽ tung hê, dám làm những việc trước đây không dám làm và cứ tưởng là bị kích thích.Uống nhiều rượu bia sẽ làm tê liệt hệ thần kinh tự chủ, sự phán đoán và ý thức đạo đức. Hậu quả tất nhiên của việc lạm dụng rượu bia sẽ đến là hành vi bạo lực, tai nạn giao thông và tệ nạn xã hội. Uống nhiều rượu bia, người ta dễ buông thả trong tệ nạn “bia ôm” và bất kể trong vấn đề “an toàn tình dục”. Không an toàn trong hoạt động tình dục chắc chắn vào cửa tử là nhiễm HIV/AIDS.
Khi uống rượu bia vào người ta dễ có cảm tưởng là có thêm “sức mạnh” về tình dục (đương nhiên không bị “xỉn” quá, vì “xỉn” đồng nghĩa với tạm thời bất lực đối với người đàn ông). Chính sự ngộ nhận này đưa đến mối nguy hại cho thế hệ mai sau. Người ta hay mượn rượu để đưa đến chuyện ái ân và đã có nghiên cứu cho thấy cha mẹ nghiện rượu là con sinh ra èo uột, kém thông minh, chậm lớn, dễ mắc bệnh tâm thần. Về tác hại của rượu bia đối với sức khỏe tâm thần, ở nước ta trong năm 2010 đã có thống kê tại viện sức khỏe tâm thần Trung ương cho thấy cứ 100 bệnh nhân nhập viện trị bệnh tâm thần thì có 14 người có liên quan đến rượu. Các biểu hiện thường gặp của bệnh nhân có vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến rượu là loạn thần, có biểu hiện hoang tưởng hoặc bị ảo giác, bạo lực với người thân, dễ gây gỗ với gia đình và người xung quanh. Đặc biệt ở người nghiện rượu lâu năm nếu đột ngột ngưng không uống rượu sẽ bị một loại rối loạn tâm thần rất nặng nề gọi là cuồng sảng rượu cấp (delirium tremens) Triệu chứng rối loạn xảy ra khi người nghiện không tiếp tục uống rượu 1-3 ngày (còn được gọi là hội chứng cai rượu) như: lú lẫn tâm thần, run tay, ảo thị giác (như thấy rắn, côn trùng bò trong người của mình), mất nước, rối loạn chất điện giải, lên cơn co giật, rối loạn tim mạch trầm trọng... Trường hợp này phải được chữa trị tại bệnh viện. Những điều trình bày trên cho thấy các tác hại của rượu bia. Ta cần biết rượu bia khi được uống được hấp thu như thế nào để gây hại ra Sao. Sau khi uống rượu bia khoảng 15 phút, một nửa lượng cồn chứa trong rượu bia đã được hấp thu vào máu và phân phối đều khắp cơ thể. Sau khoảng 1 giờ thì toàn bộ rượu sẽ được hấp thu. Rất nhanh chóng, rượu vượt qua hàng rào máu não để tác động lên hệ thần kinh trung ương. Trước hết, chức năng phán đoán và suy luận của vỏ não bị tác động. Sau đó đến chức năng cảm giác và phối hợp các động tác bị ảng hưởng nặng nề. Nếu cứ tiếp tục uống, nồng độ rượu sẽ tăng dần lên trong máu và gây hại từ mức độ nhẹ đến nặng. Khi uống với mức độ vừa phải, nồng độ rượu trong máu (BloodAlcohol Concentration:BAC) ở mức 0,5g/l (0,05%) người uống rượu có cảm giác lâng lâng dễ chịu, (nên lưu ý, ở Na Uy nồng độ giới hạn cho phép người lái xe là: 0,05%). Khi BAC tăng mức 0,5-1,5g/l (0,05-0,15%), người uống rượu bắt đầu mất sự kiểm soát bản thân. Khi BAC= 1,5-2,g/l (0,15-0,2%) cơ thể bắt đầu bị ngộ độc; BAC = 3-4 g/l (0,3-0,4%): hôn mê, BAC trên 4 g/l (>0,4%): tử vong. Liều độc của rượu thay đổi theo sự dung nhận của từng người có người mạnh “đô” uống rất nhiều rượu chẳng bị việc gì, nhưng có người chỉ uống vài hớp rược là mặt đỏ bừng gần như say xỉn), liều độc thường là 420-560g rượu nguyên chất/người nặng 70kg.

RƯỢU BIA PHA NGỌT HÓA HẠI

Trong cuộc vui người ta thường uống bia. Bia nên gọi cho đầy đủlàrượubiabởi vì bất cứloạibia nào cũng chứarượu tức cồn tuyệt đối với hàm lượng thường là 2-4%. Và mọi thứ nguy hại của rượu bia chính là tác dụng của rượu nếu uống không chừng mực. Đối với cơ thể ta, rượu hay cồn được xem như là chất độckhông hơn không kém. Khi uống thức uống có cồn, rất nhiều cơ quan trong cơ thể ta phải làm việc cật lực để giải độc và thường là thích ứng với sự độc này. Rượu bia là kẻ nham hiểm bởi vì nó không làm cho kẻ uống nó ngộ độc tức khắc (trừ trường hợp ngộ độc nặng như kiểu uống rượu dỏm chứa độc chất methanol đưa đến tử vong) mà phá hủy cơ thể người dùng nó một cách ngấm ngầm, để đến lúc nào đó trở thành người nghiện rượu gục xuống trong cơn bạo bệnh không thể cứu chữa được. Cơ quan chịu tác động nhiều nhất của rượu bia là hệ thần kinh trung ương (uống rượu lâu dài sẽ bị nghiện rượu là bệnh được xếp vào nhóm “bệnh tâm thần” ngang hàng của nghiện ma túy), kế đến là gan (dễ bị xơ gan), rồi đến dạ dày tá tràng (bị viêm loét dạ dày-tá tràng, xuất huyết tiêu hóa), v.v...
Hiện nay có cách uống rượu bia mới nhìn qua tưởng là có ích nhưng suy tính kỹ thì có thể gây hại khôn lường. Đó là uống rượu bia pha với nước ngọt. Nước ngọt đây là nước giải khát có đường (sucrose). Khi pha với rượu bia làm cho vị bia không còn đắng mà thật quyến rũ đối với các vị nam giới “hảo ngọt” (hảo ngọt đây là thích vị ngọt thật sự chứ không ám chỉ người thích các “em gái ngọt ngào”). Có người thích pha rượu bia với ngước ngọt tăng lực vì thích ngoài vị ngọt còn muốn sự “tăng lực” hỗ trợ cho bia. Có người thích pha rượu bia với nước ngọt trong suốt như nước giải khát “7 up” để cho người khác không biết mình đã pha bia với nước ngọt và vị của sự pha này cũng khá là ngon (đặc biệt đối với người mới bắt đầu uống rượu bia chưa quen vớibia nguyên chất).
Đối với người không uống rượu bia thường xuyên, lâu lâu mới uống và uống không nhiều thì việc pha ngọt cho rượu bia không có gì đáng lo ngại. Nhưng nếu uống thường xuyên và chính vị ngọt khoái khẩu làm cho uống thật nhiều thì hệ lụyxấu sẽ xảy ra
 Đường chứa rất nhiều trong nước ngọt có thể trở thành tội đồ. Trong dạng thuốc si rô, đường là “chất dẫn” rất tốt, giúp cho tác dụng nhiều loại thuốc có tác dụng nhanh hơn và tốt hơn. Cũng thế, đường có trong rượu biaphanước ngọt làm cho rượu trongbia phân tán nhanh khắp nơi trong cơ thể người uống, đặc biệt là hệ thần kinh, do đó làm cho người ta dễ say xỉn nhanh vànhiều hơn.
Đường là chất dinh dưỡng tạo năng lượng nên dùng chừng mực. Nếu người uống rượu bia pha nước ngọt quá nhiều sẽ dễ bị dư cân béo phì. Đặc biệt, nếu người đó đã bị rối loạn gọi là “hội chứng chuyển hóa” hoặc đã bị “tiền đái tháo đường” sẽ dẫn đến đái tháo đường type 2 thật sự. Chính do khoái khẩu khi uống rượu bia pha nước ngọt dễ đi đến uống rượu bia thường xuyên hơn. Và cũng do một tính chất gây lệ thuộc của rượu là làm “lờn rượu”, tức càng ngày càng phải uống nhiều hơn để cảm thấy thế mới đã. Thế là, chẳng chóng thì chầy người thích uống rượu bia pha nước ngọt sẽ đi đến nghiện rượu bia. Và cũng như nghiện ma túy, nghiện rượu bia rất khó cai nghiện để dứt bỏ, và biết bao hệ lụy xảy ra do sư nghiện này.

THUỐC LÁ ĐIỆN TỬ : HẠI HAY VÔ HẠI ?

Thời gian gần đây, người ta quảng cáo rất rầm rộ, đặc biệt trên Internet, về thuốc lá điện tử (e-cigarettes tức electronic cigarattes). Những lời có “cánh” đã tô vẽ thuốc lá điện tử là sản phẩm vô hại đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng và cố tình làm mờ đi sự kiện đây là thứ chưa chứng thực khoa học về an toàn và hiệu quả. Ngườixem quảng cáo nhiều khi không biết mục đích dùng thuốc lá điện tử là để đi đến cai hẳn thuốc lá thật chứ không phải tiếp tục phì phèo với điếu thuốc điện tử trên tay và tiếp tục mãi. Câu quảng cáo: “Thuốc lá điện tử sẽ trở thành một văn hóa thuốc lá lành mạnh trong tương lai” xem ra là rất nguy hiểm. Nhiều người đều biết hút thuốc lá là có hại. Chính khói thuốc lá là thứ gây độc hại không chỉ cho người hút nó mà cho người xung quanh hít phải nó (gọi là người hút thuốc lá thụ động). Trong khói thuốc lá có chứa hàng trăm chất độc trong đó có CO (carbon oxid là khí rất độc gây chết với lượng rất nhỏ), các chất gây ung thư (có nhóm benzopyren gây ung thư phổi, da, bàng quang là chất mới đây phát hiện có chứa trong mì ăn liền do Hàn Quốc sản xuất). Riêng nicotin chính là chất gây nghiện và rất có hại về tim mạch cho người hút thuốc lá. Thuốc lá hằng năm gây tổn thất biết bao nhiêu cho con người từ tổn thất do bệnh tật (hút thuốc lá được kể là một thủ phạm nặng ký gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD) đến tử vong (theo thống kê của bang Los Angeles của Mỹ hằng năm có gần 500.000 người Mỹ chết sớm do hút thuốc chủ động và thụ động). Nghiện thuốc lá cũng giống như nghiện ma túy, rất khó bỏ gọi là cai. Muốn cai thuốc lá nhiều khi phải bắt buộc dùng thuốc. Thuốc dùng cai thuốc lá có dạng uống (Nicostop), nhưng người ta thích dùng dạng băng dán (Nicopatch, Nicoderm TTS) dán lên da để thuốc phóng thích nicotin xuyên da vào máu. Các thuốc cai thuốc lá vừa kể đều đã trải qua nghiên cứu để chứng thực hiệu quả là an toàn và được cơ quan FDA Mỹ chấp thuận dùng trong điều trị.
Thuốc lá điện tử ra đời như thế nào?
 Người nghiện thuốc lá trước hết là do nghiện nicotin. Nicotin chính là chất gây nghiện, nó gây cho người quen sử dụng nó dài ngày sự lệ thuộc bắt buộc phải dùng tiếp, nếu không sẽ vật vã khó chịu, người nghiện thuốc lá không chỉ nghiện nicotin mà còn nghiện cung cách hút thuốc, tức cách rít hơi thuốc lá, nhả khói, tay kẹp điếu thuốc. Thuốc lá điện tử ra đời đáp ứng hai loại nghiện này: cung cấp nicotin để chữa nghiện do thiếu nicotin và có hình dạng, cấu trúc giống như điếu thuốc thật để người nghiện phì phà rít hơi và nhả khói trông như hút thật. Giống như điếu thuốc lá thật, thuốc lá điện tử có 2 phần: đầu lọc chứa nicotin và hỗn hợp chất tạo mùi thơm, thân là ống thay Vì chứa thuốc lá thực chất là một thiết bị điện tử khi kích hoạt Sẽ phun hỗn hợp hơi để đi qua đầu lọc, hòa tan nicotin và chất tạo mùi thơm. Khi người hút rít hơi thuốc, hơi nicotin và mùi thơm sẽ vào miệng và hệ hô hấp như khói thuốc. Thuốc lá điện tử cũng giống như thuốc lá thực thụ ở chỗ đầu điếu thuốc có đèn phát sáng màu đỏ, khi rít thuốc, đèn cháy trông như đốm lửa thật và đầu điếu thuốc tỏa hơi trông như làn khói thật.
Thuốc lá điện tử có gây tác hại?
Người nghiện hút thuốc lá do lệ thuộc nicotin không thể đột ngột dứt bỏ việc hút nên phải dùng biện pháp cung cấp nicotin để rồi giảm dần việc cung cấp và đi đến chỗ dứt bỏ, không cần cung cấp nicotin nữa. Nếu xem dùng thuốc lá điện tử là biện pháp để người nghiện hút thuốc lá giảm dần hút để cai hẳn việc hút thuốc thì việc dùng nó có thể chấp nhận được. Để cai bằng thuốc lá điện tử, người nghiện phải có sự quyết tâm, hút thuốc lá điện tử trong một thời gian ngắn, giảm dần tần số và liều lượng hút, để rồi bỏ thuốc lá hoàn toàn thì đó là biện pháp tốt. Tuy nhiên, cho tới nay người ta chưa thật sự đánh giá được hiệu quả và an toàn của hút thuốc lá điện tử. Cơ quan FDA Mỹ đã ra cảnh báo về sự thiếu thử nghiệm lâm sàng khoa học chứng thực độ an toàn của thuốc lá điện tử. Một số nước như Úc, Canada và Brasil nhận thấy thuốc lá điện tử có hại nhiều hơn có lợi nên đã cấm lưu hành sử dụng trong nước họ. Nếu suy xét kỹ, ta thấy thuốc lá điện tử có thể có 3 vấn đề không có lợi sau:
1. Thuốc lá điện tử chưa được chứng minh một cách độc lập là không gây độc. Nicotin và hỗn hợp hơi dùng trong thuốc lá điện tử hiện nay vẫn chưa được FDAMỹ thừa nhận trong điều trị. Nicotin ở đây không hề nguyên chất mà có thể bị nhiễm nhiều tạp chất có hại cho sức khỏe. Nicotin không tan trong nước nên hỗn hợp hơi hòa tan trong thuốc lá điện tử phải là dung môi hữu cơ và được xác định là propylen glycol hoặc dietylen glycol là các chất độc hại cho sức khỏe con người.
2. Thuốc lá điện tử không giúp được cai thuốc lá được dễ dàng. Trái lại, chính việc tiếp tục phì phèo điếu thuốc dù là thuốc lá điện tử làm cho người ta hoặc dùng luôn thuốc lá điện tử hoặc trở lại hút thuốc lá thật. Trong một nghiên cứu của Polosa và cộng sự thử trên 40 người nghiện hút thuốc lá tình nguyện hút thuốc lá điện tử, có 22% người bỏ thuốc lá thật nhưng hầu hết tiếp tục hút thuốc lá điện tử!
3. Quảng cáo thuốc lá điện tử thường là tiếp thị có “cánh”, quyến rũ người chưa hút thành người hút thuốc. Chính câu quảng cáo “Thuốc lá điện tử sẽ trởthành văn hóa hút thuốc lành mạnh trong tương lai”, kèm với tiếp thị: “Thuốc lá điện tử rất an toàn so với hút thuốc lá thật!”, và với hình ảnh giới thiệu người hút thuốc lá điện tử có thể hút ở mọi nơi cấm hút thuốc lá do họ phà hơi không phải là khói thuốc lá, làm cho giới trẻ chưa từng hút thuốc lá sẽ bị hấp dẫn và tập hút thuốc lá. Chính bác sĩ Ira J. Strumpf, phát ngôn viên của Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ, đã bày tỏ lo ngại sâu sắc là thuốc lá điện tử được quảng cáo không chỉ nhằm đến đối tượng cai thuốc lá mà còn cả cho số lượng đông đảo người trước kia chưa hề hút thuốc.

THUỐC LÁ ĐIỆN TỬ : HẠI HAY VÔ HẠI ?

Thời gian gần đây, người ta quảng cáo rất rầm rộ, đặc biệt trên Internet, về thuốc lá điện tử (e-cigarettes tức electronic cigarattes). Những lời có “cánh” đã tô vẽ thuốc lá điện tử là sản phẩm vô hại đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng và cố tình làm mờ đi sự kiện đây là thứ chưa chứng thực khoa học về an toàn và hiệu quả. Ngườixem quảng cáo nhiều khi không biết mục đích dùng thuốc lá điện tử là để đi đến cai hẳn thuốc lá thật chứ không phải tiếp tục phì phèo với điếu thuốc điện tử trên tay và tiếp tục mãi. Câu quảng cáo: “Thuốc lá điện tử sẽ trở thành một văn hóa thuốc lá lành mạnh trong tương lai” xem ra là rất nguy hiểm. Nhiều người đều biết hút thuốc lá là có hại. Chính khói thuốc lá là thứ gây độc hại không chỉ cho người hút nó mà cho người xung quanh hít phải nó (gọi là người hút thuốc lá thụ động). Trong khói thuốc lá có chứa hàng trăm chất độc trong đó có CO (carbon oxid là khí rất độc gây chết với lượng rất nhỏ), các chất gây ung thư (có nhóm benzopyren gây ung thư phổi, da, bàng quang là chất mới đây phát hiện có chứa trong mì ăn liền do Hàn Quốc sản xuất). Riêng nicotin chính là chất gây nghiện và rất có hại về tim mạch cho người hút thuốc lá. Thuốc lá hằng năm gây tổn thất biết bao nhiêu cho con người từ tổn thất do bệnh tật (hút thuốc lá được kể là một thủ phạm nặng ký gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD) đến tử vong (theo thống kê của bang Los Angeles của Mỹ hằng năm có gần 500.000 người Mỹ chết sớm do hút thuốc chủ động và thụ động). Nghiện thuốc lá cũng giống như nghiện ma túy, rất khó bỏ gọi là cai. Muốn cai thuốc lá nhiều khi phải bắt buộc dùng thuốc. Thuốc dùng cai thuốc lá có dạng uống (Nicostop), nhưng người ta thích dùng dạng băng dán (Nicopatch, Nicoderm TTS) dán lên da để thuốc phóng thích nicotin xuyên da vào máu. Các thuốc cai thuốc lá vừa kể đều đã trải qua nghiên cứu để chứng thực hiệu quả là an toàn và được cơ quan FDA Mỹ chấp thuận dùng trong điều trị.
Thuốc lá điện tử ra đời như thế nào?
 Người nghiện thuốc lá trước hết là do nghiện nicotin. Nicotin chính là chất gây nghiện, nó gây cho người quen sử dụng nó dài ngày sự lệ thuộc bắt buộc phải dùng tiếp, nếu không sẽ vật vã khó chịu, người nghiện thuốc lá không chỉ nghiện nicotin mà còn nghiện cung cách hút thuốc, tức cách rít hơi thuốc lá, nhả khói, tay kẹp điếu thuốc. Thuốc lá điện tử ra đời đáp ứng hai loại nghiện này: cung cấp nicotin để chữa nghiện do thiếu nicotin và có hình dạng, cấu trúc giống như điếu thuốc thật để người nghiện phì phà rít hơi và nhả khói trông như hút thật. Giống như điếu thuốc lá thật, thuốc lá điện tử có 2 phần: đầu lọc chứa nicotin và hỗn hợp chất tạo mùi thơm, thân là ống thay Vì chứa thuốc lá thực chất là một thiết bị điện tử khi kích hoạt Sẽ phun hỗn hợp hơi để đi qua đầu lọc, hòa tan nicotin và chất tạo mùi thơm. Khi người hút rít hơi thuốc, hơi nicotin và mùi thơm sẽ vào miệng và hệ hô hấp như khói thuốc. Thuốc lá điện tử cũng giống như thuốc lá thực thụ ở chỗ đầu điếu thuốc có đèn phát sáng màu đỏ, khi rít thuốc, đèn cháy trông như đốm lửa thật và đầu điếu thuốc tỏa hơi trông như làn khói thật.
Thuốc lá điện tử có gây tác hại?
Người nghiện hút thuốc lá do lệ thuộc nicotin không thể đột ngột dứt bỏ việc hút nên phải dùng biện pháp cung cấp nicotin để rồi giảm dần việc cung cấp và đi đến chỗ dứt bỏ, không cần cung cấp nicotin nữa. Nếu xem dùng thuốc lá điện tử là biện pháp để người nghiện hút thuốc lá giảm dần hút để cai hẳn việc hút thuốc thì việc dùng nó có thể chấp nhận được. Để cai bằng thuốc lá điện tử, người nghiện phải có sự quyết tâm, hút thuốc lá điện tử trong một thời gian ngắn, giảm dần tần số và liều lượng hút, để rồi bỏ thuốc lá hoàn toàn thì đó là biện pháp tốt. Tuy nhiên, cho tới nay người ta chưa thật sự đánh giá được hiệu quả và an toàn của hút thuốc lá điện tử. Cơ quan FDA Mỹ đã ra cảnh báo về sự thiếu thử nghiệm lâm sàng khoa học chứng thực độ an toàn của thuốc lá điện tử. Một số nước như Úc, Canada và Brasil nhận thấy thuốc lá điện tử có hại nhiều hơn có lợi nên đã cấm lưu hành sử dụng trong nước họ. Nếu suy xét kỹ, ta thấy thuốc lá điện tử có thể có 3 vấn đề không có lợi sau:
1. Thuốc lá điện tử chưa được chứng minh một cách độc lập là không gây độc. Nicotin và hỗn hợp hơi dùng trong thuốc lá điện tử hiện nay vẫn chưa được FDAMỹ thừa nhận trong điều trị. Nicotin ở đây không hề nguyên chất mà có thể bị nhiễm nhiều tạp chất có hại cho sức khỏe. Nicotin không tan trong nước nên hỗn hợp hơi hòa tan trong thuốc lá điện tử phải là dung môi hữu cơ và được xác định là propylen glycol hoặc dietylen glycol là các chất độc hại cho sức khỏe con người.
2. Thuốc lá điện tử không giúp được cai thuốc lá được dễ dàng. Trái lại, chính việc tiếp tục phì phèo điếu thuốc dù là thuốc lá điện tử làm cho người ta hoặc dùng luôn thuốc lá điện tử hoặc trở lại hút thuốc lá thật. Trong một nghiên cứu của Polosa và cộng sự thử trên 40 người nghiện hút thuốc lá tình nguyện hút thuốc lá điện tử, có 22% người bỏ thuốc lá thật nhưng hầu hết tiếp tục hút thuốc lá điện tử!
3. Quảng cáo thuốc lá điện tử thường là tiếp thị có “cánh”, quyến rũ người chưa hút thành người hút thuốc. Chính câu quảng cáo “Thuốc lá điện tử sẽ trởthành văn hóa hút thuốc lành mạnh trong tương lai”, kèm với tiếp thị: “Thuốc lá điện tử rất an toàn so với hút thuốc lá thật!”, và với hình ảnh giới thiệu người hút thuốc lá điện tử có thể hút ở mọi nơi cấm hút thuốc lá do họ phà hơi không phải là khói thuốc lá, làm cho giới trẻ chưa từng hút thuốc lá sẽ bị hấp dẫn và tập hút thuốc lá. Chính bác sĩ Ira J. Strumpf, phát ngôn viên của Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ, đã bày tỏ lo ngại sâu sắc là thuốc lá điện tử được quảng cáo không chỉ nhằm đến đối tượng cai thuốc lá mà còn cả cho số lượng đông đảo người trước kia chưa hề hút thuốc.

THUỐC TRỊ MỤN GÂY HẠI

Báo chí có đưa tin một phụ nữ người Pháp vừa đâm đơn kiện bác sĩ da liễu vì người này đã kê toa thuốc trị mụn trứng cá cho con trai bà và khiến chàng trai trẻ do dùng thuốc đã thay đổi thái độ, hành vi và sau cùng tự tử chết. Thuốc được nêu là isotretinoin, ở Pháp có tên là Curacné hoặc Procuta. Isotretinoin là thuốc trị mụn trứng cá nặng nhưng cũng là loại thuốc gây nhiều tác hại trầm trọng nếu dùng tùy tiện, không đúng cách và không tuân thủ một số điều.
Trước khi nói đến thuốc trị mụn có thể gây hại là isotretinoin, xin có đôi điều nói về mụn trứng cá ở thanh niên. Ta cần biết mụn trứng cá nhiều khi chỉ là hiện tượng sinh lý bình thường của cơ thể. Đa số các thanh niên đến tuổi hoặc vừa qua tuổi dậy thì đều nổi mụn trứng cá ở mặt. Nổi mụn ở tuổi dậy thì được xem là hiện tượng tự nhiên do sựphát triển mạnh các nội tiết tố sinh dục trong cơ thể và hiện tượng này có thể kéo dài một thời gian sau này nữa. Các bạn trẻ có thể làm giảm nổi mụn bằng cách:
- Ăn uống điều độ (nên ăn nhiều rau quả trái cây để tăng cường chất bổ dưỡng và tránh táo bón);
- Không lạm dụng những gia vị cay nóng hoặc thức uống kích thích như cà phê, trà...;
- Tránh lo lắng phiền muộn (lạc quan thoải mái trong cuộc sống có thể giúp cải thiện rối loạn kể cả chuyện nổi mụn);
- Rửa mặt hằng ngày khoảng 4-5 lần với nước thường hoặc nước pha muối (pha 1 hoặc 2 muỗng cà phê muối ăn vào 1 lít nước), lưu ý tránh sử dụng xà bông không thích hợp với da mặt làm mụn nổi nhiều hơn;
- Luôn đội mũ khi ra nắng.
Nếu thấy nổi mụn nhiều, đặc biệt có dấu hiệu viêm nhiễm, có thể tự mua và dùng loại thuốc bôi cho tác dụng tại chỗ như thuốc bôi ngoài da chứa benzoyl peroxyd hoặc thuốc bôi chứa kháng sinh như erythromycin hoặc clindamycin. Các thuốc bôi loại này có tác dụng làm tiêu nhân mụn và diệt vi khuẩn gây viêm nhiễm ởmụn. Khi dùng loại thuốc trị mụn bôi ngoài da, nên bôi thử trên một vùng nhỏ phần da mỏng ở mặt truớc cẳng tay, để yên trong 6-8 giờ, nếu không thấy phản ứng gì đặc biệt mới bôi lên mặt, và chỉ bôi chỗ mụn.
Nếu tình trạng mụn nặng, có thể bôi một số thuốc trị mụn khác nhưng thuốc loại này cần được bác sĩ chuyên khoa da liễu chỉ định và huớng dẫn sử dụng. Đặc biệt, nếu có nhiễm khuẩn nặng (mụn bọc có mủ), bác sĩ phải cho dùng thêm thuốc uống là kháng sinh và phải uống trong thời gian dài có khi là nhiều tháng. Đối với người nữ bị nổi mụn, mặc dù người nữ còn rất trẻ chưa lập gia đình, bác sĩ có thể cho dùng thuốc là nội tiết tố (hormone) đặc biệt là thuốc tránh thai. Vì sao phải dùng thuốc là hormone để trị mụn? Bởi vì, không chỉ ở các em nam khi đến tuổi dậy thì, cơ quan sinh dục phát triển, bài tiết hormone sinh dục nam là testosterone làm tuyến bã ở da mặt hoạt động quá đáng đưa đến nổi mụn, mà trong cơ thể người nữ vẫn có testosteron tuy rất ít. Vì thế, ở người nữ vẫn có thể bị nổi mụn. Đối với người trưởng thành, thậm chí ở tuổi trung niên vẫn có thể bị mụn chính do không có sự cân bằng các hormone sinh dục, hormone sinh dục nam hoạt động quá đáng. Trong điều trị mụn có khi phải dùng thuốc hormone sinh dục nữ và chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có trường hợp bác sĩ chỉ định dùng thuốc tránh thai cho phụ nữ (tuyệt đối không dùng cho nam giới). Bởi vì thuốc tránh thai chính là thuốc chứa hormone sinh dục nữ (như thuốc tránh thai phối hợp thông dụng chứa cả estrogen và progesteron là 2 hormone sinh dục nữ) để đối kháng lại hormone sinh dục nam.
Trong trường hợp bị trứng cá nặng mà các thuốc dùng nêu trên không hiệu quả, bác sĩ có thể cho dùng thuốc isotretinoin. Isotreinoin được tìm ra vào năm 1982, là một hóa chất tổng hợp rất giống vitamin A. Isotretinoin có tên biệt dược nổi tiếng trước đây là Roaccutane, được dùng thay thế cho vitamin A để trị mụn trứng cá loại nặng (severe cystic acne vulgaris). Từ năm 1930, vitaminA được dùng trị mụn trứng cá loại nặng này với liều rất cao 500.000 UI/ngày và người ta thấy tiện lợi hơn nếu thay vitamin A dùng isotretinoin. Cơ chế trị mụn của isotretinoin vẫn chưa biết rõ hoàn toàn, chỉ dựa vào giả thuyết là chất này làm giảm tiết bã nhờn do gây chết (apoptosis) các tuyến bã nhờn và diệt Propionibacterium acnes (vi khuẩn gây mụn).
 Isotretinoin là thuốc dùng sai rất nguy hiểm vì có nhiều tác dụng phụ có hại, đặc biệt, có thể gây quái thai cho người nữ dùng nó mà lại có thai. Theo bảng phân loại thuốc dùng cho phụ nữ có thai của FDA Mỹ, isotretioin được phân vào bảng X tức tuyệt đối không dùng cho phụ nữ có thai. Bởi vì isotretinoin đã được chứng minh là gây quái thai, làm cho thai nhi bất toàn về thị giác và thính giác (trẻ sinh ra không có vành tai), dị dạng mặt, chậm phát triển tâm thần. Vì chắn chắn gây quái thai nên khi bác sĩ quyết định dùng isotretinoin trị mụn cho người nữ trong tuổi còn sinh nở, bắt buộc phải có bản thỏa thuận điều trị và có chữ ký của người được điều trị. Trong đó, người được điều trị cam kết là đã biết rõ là thuốc có thể gây quái thai. Thậm chí ở các nước phương Tây, bác sĩphải cho thuốc tránh thai kèm theo thuốc isotretinoin để bảo đảm người nữ dùng thuốc không có thai trong suốt thời gian dùng thuốc trị mụn. Người nữ đang dùng thuốc isotretinoin nếu muốn có thai, phải ngưng dùng isotretinoin một tháng trước rồi mới tính chuyện có thai (vì thuốc tích lũy trong cơ thể dài ngày có thể gây hại). Ở Mỹ, có sựphối hợp giữa bác sĩvà dược sĩkhi cho phụ nữ dùng thuốc isotretinoin, bác sĩ phải thuộc chuyên khoa da liễu khi kê đơn cho phụ nữisotretinoin phải ghi trong website của vịđó, dược sĩkiểm trawebsite thấy tuân thủ các quy định mới bán thuốc. Hiện nay, ở bệnh viện Da liễu TPHCM tuân thủ rất chặt chẽ các điều vừa kể khi cho người bệnh dùng isotretinoin. Bác sĩ thực hiện nghiêm việc kê đơn, trước khi kê đơn phải đưa biên bản thỏa thuận điều trị, phải tránh thai, phải hiểu biết về tác dụng phụ có hại của thuốc cho người bệnh ký. Một nghiên cứu thực hiện tại khoa Dược, Đại học Y Dược TPHCM, cho thấy nhiều nữ công nhân trẻ ở Khu Công nghiệp Biên Hòa đã tự ý mua dùng isotretinoin để trị mụn (ở Khu Công nghiệp rất dễ bị mụn do hóa chất) mà lại hoàn toàn không biết là thuốc có thể gây quái thai. Ngoài tác dụng gây quái thai, isotretinoin còn gây các tác dụng có hại khác. Isotretinoin có thể gây: khô da, khô môi, khô miệng, khô mắt (nhiều khi bác sĩ phải kê thêm thuốc là nước mắt nhân tạo để trị khô mắt do người bệnh dùng isotretinoin), viêm kết mạc, nhức đầu, đau cơ, đau khớp... Isotretinoin có thể gây tác dụng có hại thuộcloại hiếm là làm viêm gan, viêm tụy, và đặc biệt gây loạn thần, trầm cảm (có ý muốn tự tử).
Trở lại trường hợp tự tử vì dùng thuốc isotretinoin ở Pháp được nêu ở trên, qua lời kể của mẹ nạn nhân, trong vòng 6 tháng, con trai bà làJordan, 22 tuổi, được điều trị bằng thuốc Curacné, thuốc generic củaisotretinoin ở Pháp (vào năm 2008, biệt dược đầu tiên của isotretinoin là Roaccutane không còn sản xuất nữa mà chỉ có thuốc generic, như ở Việt Nam có Acnotin, Isotina chính là isotretinoin). Sau thời gian uống thuốc, Jordan bỗng thay đổi thái độ và hành vi: đêm không ngủ, tự nhốt mình trong phòng, chịu đựng nhiều cơn đau dữ dội ở lưng và bị khô miệng (đúng là bị tác dụng phụ, trong đó nguy hiểm là bị trầm cảm). Sau đó, chàng sinh viên trẻ tự kết liễu đời mình bằng cách treo cổ và chết ngay trong phòng.
Như vậy nên lưu ý có thuốc trị mụn có thể gây tác hại rất nghiêm trọng. Để tránh hậu quả đáng tiếc do dùng sai thuốc trị mụn, nếu bị mụn nhiều các bạn nên đến bác sĩ để được hướng dẫn chữa trị là tốt nhất.

THUỐC TRỊ NÁM MẶT

Nám mặt hay sạm da là tình trạng tăng sắc tố đen (hắc tố hay còn gọimelanin) trên damặt. Chứng nám da có nhiều nguyên nhân gây ra, có thể chia làm 2 loại nguyên nhân:
 - Nguyên nhân nội sinh: là những nguyên nhân xảy ra bên trong cơ thể làm cho nám danhư nám do mang thai, do thay đổi nội tiết tố ở người phụ nữ, do uống thuốc ngừa thai (các nguyên nhân nội sinh này nói chung là do sự thay đổi 2 nội tiết tố của người nữ là estrogen và progesteron) do yếu tố tâm lý (stress thường xuyên là dễ nám da mặt). Có thể kể thêm yếu tố tâm lý, nếu lo lắng phiền muộn nhiều cũng có thể làm cho người nữ bị nám mặt...
 - Nguyên nhân ngoại sinh: là những nguyên nhân xảy ra bên ngoài cơ thể như nám do nắng, do dùng mỹ phẩm, do hóa chất có trong môi trường, do dùng thuốc (tetracyclin, sulfamid, thuốclợitiểuthiazid)... làm dabắt nắng mà không được bảo vệ chống nắng.
Như vậy để trị nám cần phải xác định nguyên nhân và chữa trị đúng vào nguyên nhân thì mới có hiệu quả.
Về thuốc trị nám da hiện nay trên thị trường có rất nhiều, có loại dùng trong tức dùng để uống, nhưng đa số là thuốc là thuốc bôi ngoài da và có nhiều loại là mỹ phẩm, và tác dụng thì chỉ có tính hỗ trợ. Bởi vì nám da mặt do nội tiết tố (tức do yếu tố bên trong nhưđãkể ở trên) thìviệc dùng thuốcbôi ngoài dakhông thể giúp cải thiện. Về hoạt chất làm trắng da có trong các chế phẩm trị nám da thường là cáchóa chất có tính acid nhưAHA (tức alpha hydroxy acid như acid lactic, acid glycolic), acid azelaic, acid ascorbic (tức Vitamin C), acid kojic, acid retinoic (tức tretinoin)... Riêng hydroquinon mà bạn đọc viết thư hỏi, là hóa chất dùng làm trắng da dùng đã lâu và nay thì có nhiều bàn cãi. Hydroquinon có tính khử trong phản ứng oxy hóa khử nên được dùng trong nhiếp ảnh, dùng làm chất rửa ảnh làm hiện hình của phim trên giấy ảnh. Hydroquinon có tác dụng trị nám nhờ làm tế bào hắc tố khi tiếp xúc với hóa chất này sẽ không tiết melanin nhưng như đã nói, hydroquinon không phải luôn luôn hiệu quả trị nám khi nguyên nhân gây nám không được xác định để trị tận căn. Có khuyến cáo, chỉ bôi chế phẩm chứa hydroquinon trong 2 tháng nếu thấy không tác dụng thì ngưng bôi, và trong thời gian bôi phải tránh đi ra nắng (hydroquinon gây quang cảm ứng làm da nám hơn khi tiếp xúc với ánh nắng). Hydroquinon có gây tác dụng phụ như hồng ban thoáng qua (transient erythema), gây bệnh mô xám nâu (ochronosis, tức làm da dày và có màu xạm hơn), đặc biệt có thể gây dị ứng (vì vậy cần thử trước, giống như dùng mỹ phẩm nói chung, là bôi mộtít chế phẩm chứa hydroquinon lên da ở mặt trong cánh tay và chờ trong vòng 24 giờ, nếu vùng da bôi đỏ ửng là không nên dùng). Mấy năm gần đây, có sự bàn cãi về tác dụng có hại, thậm chí có sự nghi ngờhyroquinon gây ung thư, đưa đến nhiềunước ở châu Âu cấm dung hydroquinon vànhiều chếphẩm làm trắng da có thông tin không dùng hydroquinnon để người tiêu thụ an tâm dùng. Tuy nhiên vẫn còn nhiều nước, trong đó có Mỹ không cấm dùng hydroquinon. Tóm lại, khi bị nám da mặt cách chữa trị tốt nhất là nên đến bác sĩ chuyên khoa da liễu để được khám và cho hướng xử trí đúng đắn. Bởi vì như đã nói, trị nám cần phải xác định nguyên nhân và chữa trị đúng vào nguyên nhân thì mới có hiệu quả.

CÓ NÊN DÙNG THUỐC SỔ ĐỂ GIẢM CÂN ?

Hiện nay có một số chị em làm đẹp giảm cân bằng cách uống thuốc xổ còn gọi là thuốc trị táo bón hay thuốc nhuận trường. Thậm chí có lưu hành thuốc Đông y hoặc chế phẩm thực phẩm chức năng thực chất có chứa dược thảo có tác dụng nhuận xổ được dùng giảm cân chống béo phì, đưa đến nhiều người lầm tưởng rằng dùng thuốc xổ có thể giúp giảm cân. Điều rất rõ ràng là khi dùng thuốc hay chế phẩm có tác dụng làm cho xổ đến độ gây tiêu chảy trong thời gian đến mấy ngày, trong thời gian nàyăn không được lại thêm tiêu tốn sức lực chạy vào cầu tiêu liên tục thì sẽ giảm cân đương nhiên. Tuy nhiên, cách làm đẹp như thế chắc chắn ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe.
Trước hết, xin nói về thuốc xổ tức thuốc trị táo bón. Có lời khuyên, nên hết sức tránh dùng thuốc trị táo bón trừ trường hợp bị táo bón kéo dài hay làm nặng thêm một bệnh khác (như bị tăng huyết áp, trĩ nếu gắng sức rặn đi tiêu sẽ có hại). Hiện nay người ta hay thuốc xổ loại kích thích thường là dẫn chất anthraquinon lấy từ thực vật dùng trong Tây y lẫn Đông y hoặc thuốc là hóa chất tổng hợp: bisacodyl, danthrone, cascara, boldo, bordain, sené (phan tả diệp), rhubarbe (đại hoàng), aloe (lô hội)... có nhiều tác dụng phụ dùng lâu dài rất có hại. Có thuốc nhiều độc tính hiện nay không dùng nữa như dầu thầu dầu (castor oil), phenolphthalein (vì gây ung thư khi thử trên chuột) nhưng các chế phẩm làm cho xổ bán trôi nổi có thể chứa các chất độc hại này. Người dùng thuốc xổ để giảm cân thường dùng các thuốc trị táo bón vừa kể có tác dụng kích thích niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột nên xổ rất mạnh. Tuy nhiên nếu dùng thuốc kéo dài (việc này thường xảy ra khi giảm cân) sẽ làm mất trương lực ruột đưa đến rối loạn tiêu hóa đi tiêu không còn bình thường, làm mất kali gây yếu cơ, mỏi mệt. Cần nói thêm là hiện nay, trên thị trường bày bán rất nhiều loại thực phẩm chức năng dạng viên, bột, cao, sâm, nước, trà... dùng để giảm cân. Không ít người vì muốn giảm cân nhanh chóng, dễ dàng nênsẵn sàng bỏ ra bạc triệu đồng muasử dụng. Nhiều người không nhận được kết quả như mong muốn: cân nặng không giảm hoặc giảm cân nhưng đi tiêu nhiều (chắn chắn là có chứa thuốc xổ), đi tiểu nhiều (có chứa thuốc lợi tiểu), người mệt mỏi và sau khi ngưng sử dụng thực phẩm chức năng giảm cân thì cân nặng tăng trở lại như cũ, thậm chí là tăng nhiều hơn. Có loại thực phẩm chức năng ăn kiêng quảng cáo 5 ngày giảm đến 3 kg, nếu thật sự giảm cân nhanh như thế thì chắc chắn không tốt cho sức khỏe, có thể dẫn đến những hậu quảnghiêm trọng chưaxác định được. Vào tháng 5/2009, FDA Mỹ đã cảnh báo ngưng dùng thực phẩm chức năng giảm cân Hydroxycut vì gây tổn hại cho gan. Cơ quan chức năng Việt Nam cũng phát hiện nhiều loại thực phẩm chức năng giảm cân dỏm, quá đát hoặc chứa chất độc hại...
Cần đặc biệt lưu ý, thông thường dư cân béo phì là do ăn uống quáthừachấtdinh dưỡngsinh nănglượng(đườngbột, béo) nhưng lại không có sự vận động thích hợp để tiêu hao năng lượng, năng lượng thừa biến thành mỡ gây dư cân béo phì. Vì vậy, để giảm cân phải đồng thời tác động đến 2 yếu tố: Chế độ dinh dưỡng thích hợp (ăn kiêng) và chế độ tập luyện thể dục thích hợp. thực phẩm chức năng giảm cân chỉ có tác dụng hỗ trợ. Không tác động đến 2 yếu tố vừa kể mà chỉ dùng thực phẩm chức năng không thôi trong 5 ngày làm giảm 3kg là quảng cáo quá đà không đáng tin cậy. Giảm cân quá nhanh thường không tốt cho sức khoẻ, vì trong thời gian ngắn cơ thể phải kiêng khem các chất dinh dưỡng bấy lâu nay đã được cung cấp thừa mứa và tiêu hao quá nhiều năng lượng trong khi chưa có sự thích nghi. Tùy theo thể trọng mỗi người mà sự giảm cân trong khoảng thời gian có khác nhau, nên đi khám bác sĩhoặc chuyên viên dinh dưỡng để được tư vấn về sự giảm tối đa bao nhiêu kg cân nặng trong một tháng. Còn chế phẩm dạng viên uống có tác dụng giảm cảm giác đói, làm chán ăn không ghi rõ chứa hoạt chất gì cũng phải đề cao cảnh giác. Xin lưu ý, hiện nay trên thế giới đã cảnh báo nhiều loại thực phẩm chức năng giảm cân có chứa thuốc chống béo phì thuốc loại nguy hiểm đã bị cấm (như fenfluramine) hoặc chứa thuốc đông y có thể gây tai biến là ma hoàng (ephedra), ta phải hết sức thận trọng xem xét kỹ tác dụng giảm cảm giác đói, gây chán ăn như thế nào, có thể thuộc loại nguy hiểm. Những người có nhu cầu giảm cân nói chung, tốt nhất nên đi khám ở bác sĩ hoặc chuyên viên dinh dưỡng để được tư vấn về biện pháp thích hợp và an toàn cho việc giảm cân. Không nên tự ý dùng thuốc xổ hoặc thực phẩm chức năng theo lời đồn đại, chỉ chuốc lấy “tiền mất tật mang” mà thôi.

CHÍCH THUỐC GIẢM CÂN : CÓ THỂ GẶP NGUY HIỂM

Từ khá lâu, trên thị trường bày bán rất nhiều loại chế phẩm trông như thuốc uống thực chất là thực phẩm chức năng giảm cân có dạng viên, bột, cao, dung dịch nước, trà,... Tác dụng thật sự của những loại chếphẩm này thực hưnhư thế nào rất khó biết. Tuy nhiên, tác hại của chúng thì cứ xuất hiện, như từ tháng 5/2009, FDA Mỹ đã cảnh báo ngưng dùng ngay chế phẩm giảm cân Hydroxycut vì gây tổn hại nặng nề cho gan. Sau đó, nhiều nước ngoài Mỹ đã cảnh báo nhiều loại thực phẩm chức năng giảm cân có chứa thuốc chống béo phì thuộc loại nguy hiểm đã bị cấm (như fenfluramin) hoặc chứa thuốc đông y có thể gây tai biến là ma hoàng (ephedra)... Ở ta, cơ quan chức năng cũng phát hiện nhiều loại thực phẩm chức năng giảm cân dỏm, quá đát,... Tuy vậy, không ít người vì muốn giảm cân nhanh chóng, vẫn dễ dàng sẵn sàng bỏ ra hàng bạc triệu đồng mua sử dụng. Nhiều người không nhận được kết quả như mong muốn: cân nặng không giảm hoặc giảm cân nhưng đi tiêu, đi tiểu nhiều, người mệt mỏi và sau khi ngưng sử dụng thực phẩm chức năng giảm cân thì cân nặng tăng trở lại nhiều hơn. Hiện nay lại xuất hiện “thuốc chích giảm cân”, nếu xem kỹ thì dùng thuốc chích giảm cân chỉ có nguy cơ chuốt lấy sự nguy hại chứ chẳng có tác dụng nào làm tan mỡ thật sự hầu giảm cân chống béo phì.
Không chỉ có những trang web online, tại nhiều trung tâm phẫu thuật thẩm mỹ, spa đã quảng cáo thuốc chích giảm cân, thậm chí bán và sử dụng thuốc chích giảm cân “vô tội vạ” với nhiều lời mời chào hấp dẫn. Giới thiệu về thuốc chích giảm cân thường có lời “có cánh” như: “Loại thuốc này có tác dụng cực tốt, hiệu quả rất nhanh, đặc biệt khi sử dụng tiêm thuốc không gây đau, không hay hiếm gặp dị ứng, không gây rối loạn nội tiết, giảm chứng béo phì và phân hủy mỡ, phục hồi vi tuần hoàn, tái tạo và bảo vệ mô liên kết giúp da trẻ hóa ...”. Hoặc: “Thuốc còn có tác dụng đánh tan mỡ thừa ở những vùng khó giảm cân nhất, thậm chí cả những vùng tập thể dục không đạt được kết quả thuốc có thể giúp bạn làm điều đó”. Những hóa chất sử dụng trong thuốc chích giảm cân được bơm trực tiếp vào bên trong các lớp mỡ nhằm phá vỡ cấu trúc của khối mỡ, ngăn chặn chúng phát triển, là những gì?
 Trước hết là phosphatidylcholin, thuộc nhóm chất béo có tên phospholipid (tức chất béo có phosphor). Khi ăn vào trong hệ tiêu hóa của ta, phần lớn phosphatidylcholin bị phân cắt thành cholin, acid béo tự do, và nhóm phosphat. Vì vậy, phosphatidylcholin được xem là chất cung cấp cholin là chất rất quan trọng tạo thành acetylcholin dẫn truyền thần kinh (hệ thần kinh ta có tốt hay không phải có đủ acetylcholin). Phosphatidylcholin là chất béo có nhiều ở lòng đỏ trứng gà, đậu nành (trong lòng đỏ trứng gà, phosphatidylcholin là thành phần của lecithin). Còn ở trong cơ thể, nó có ở tế bào, đặc biệt là màng tế bào. Phosphatidylcholin được nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe. Thử trên chuột thí nghiệm bị làm nhiễm siêu vi viêm gan A, B và C, phosphatidylcholin cho thấy có thể sửa chữa tình trạng gan bị tổn thương (liver repair) nhưng không cho thấy tác dụng này trên người. Phosphatidylcholin được một số thông tin cho rằng có tác dụng làm phân hủy tế bào mỡ (lipolysis) có thể dùng thay thế phương pháp hút mỡ nhưng chỉ đồn đại nhiều chứ không có công trình nghiên cứu nghiêm túc chứng thực là tiêm phosphatidylcholin làm giảm mỡ để giảm cân. Phosphatidylcholin lại được cho rằng có thể tiêm với deoxycholat để giảm cân. Deoxycholat thực chất là muối mật (muối acid cholic) có trong mật giúp cơ thể hấp thu chất béo dầu mỡ từ thức ăn. Deoxycholat được dùng chung với phosphatidylcholin nhằm giúp chất béo này hấp thu tốt hơn khi đưa vào trong cơ thể. Một thông tin cho rằng deoxycholat được tiêm vớiphosphatidylcholin dùng trong giải phẫu thẩm mỹ có tên mesotherapy. Mesotherapy là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu được sử dụng rộng rãi ở châu Âu để điều trị các tổn thương ở da bằng cách đưa thuốc trực tiếp vào tầng trung bì của da với kim tiêm siêu nhỏ theo chỉ định. Tuy nhiên, mesotherapy chỉ điều trị các tổn thương về da như: da lão hóa, nhão xệ, mỏng khô héo do thiếu nước, sắc tố khác thường đặc biệt là sắc tố nội tiết tố, hoặc giảm hiện tượng cằm đôi, thon gọn khuôn mặt, chứ hoàn toàn không làm tan mỡ để giảm cân.
Chất thứhai được đồn đại là có thể chích để giảm cân là vitamin B12. Chích vitamin B12 làm giảm trọng lượng cơ thể được lý giải là làm tăng tốc quá trình chuyển hóa làm tiêu hao năng lượng. Điều này là sai, vitamin nói chung chỉ là các chấtxúc tác các phản ứng chứ không thể làm tiêu hao năng lượng làm giảm cân. Người ta chỉ tiêm chích vitamin B12 vì thiếu vitamin này gây thiếu máu đặc biệt gọi là thiếu máu nguyên bào khổng lồ. Loại thiếu máu này có những đặc trưng về hình thể tế bào máu thấy trên xét nghiệm. Chích vitamin B12 có thể bị nguy hiểm vì dị ứng, thậm chí là bị sốc phản vệ gây chết người.
Chất thứ ba được đồn đại tan mỡkhi tiêm trực tiếp là chếphẩm chứa 3 loại enzyme chính: choline, inostol và methionine, các enzyme này ngăn ngừa quá trình mỡ tích tụ quanh gan. Ba chất vừa kể mà gọi là enzyme là hoàn toàn sai. Vì choline là chất có trong cơ thể hoặc đưa từ bên ngoài vào tạo thành acetylcholine là chất dẫn truyền thần kinh đã kể ở trên, inositol là một loại đường đa (polyol chứa nhiều nhóm -OH) còn methonine là một acid amin. Ba chất vừa kể đều bắt nguồn từ thực phẩm, có thể liên quan đến chuyển hóa mỡnhưng còn làm tan mỡ đến độ giảm cân chống béo phì chỉ là lời đồn đại mà thôi.
Cần đặc biệt lưu ý, thông thường dư cân béo phì là do ăn uống quá thừa chất dinh dưỡng sinh năng lượng (đường bột, béo) nhưng lại không có sự vận động thích hợp để tiêu hao năng lượng, năng lượng thừa biến thành mỡ gây dư cân béo phì. Vì vậy, để giảm cân phải đồng thời tác động đến 2 yếu tố: Chế độ dinh dưỡng thích hợp (ăn kiêng) và Chế độ tập luyện thể dục thích hợp. Có một số trường hợp béo phì bắt buột phải dùng thuốc (thuốc được thừa nhận dùng trong điều trị hiện nay là orlistat, một thuốc khác trước đây cho dùng nhưng nay bị cấm vìgây hại quá nhiều là Sibutramin) chứ không thể dùng thực phẩm chức năng giảm cân hoặc thuốc chích giảm cân nào đó không thôi mà giảm cân được. Nên lưu ý, giảm cân là nhu cầu làm đẹp chính đáng cho những ai đang “quá khổ”, tuy nhiên, giảm cân bằng thuốc, đặc biệt là chích thuốc sẽ có nguy cơ rất lớn cho sức khỏe. Chích thuốc giảm cân luôn là cách rất nguy hiểm vì gây ra nhiều phản ứng đối với cơ thể, thậm chí là hiện tượng sốc phản vệ gây chết người đối với người sử dụng. Những người có nhu cầu giảm cân tốt nhất nên đi khám ở bác sĩhoặc chuyên viên dinh dưỡng để được tư vấn về biện pháp thích hợp và an toàn cho việc giảm cân.

CHẤT BÉO : CÔNG VÀ TỘI

Theo tin báo chí, mới đây chính phủ Đan Mạch đã ban hành luật thuế mới nhằm mang lại thể trạng sức khỏe tốt hơn cho người dân. Theo luật thuế mới này, tất cả các thực phẩm chế biến, dù sản xuất trong nước hay nhập khẩu, đều bị đánh thuế bổ sung nếu trong thành phần của chúng có hơn 2,3% chất béo bão hòa. Các quan chức và giới chuyên môn Đan Mạch cho rằng “thuế chất béo” sẻ hạn chế nạn béo phì hiện đang gây tổn hại cho đất nước này mỗi năn 2,9 tỷ USD. Chất béo bão hòa là gì mà lại gây tác hại như thế?
Ở ta nhiều người đã bảo với nhau, chất béo trans là không tốt. Vào giữa tháng 10 năm 2010, một hội thảo lớn đã diễn ra tại Hà Nội về “Tác hại của việc sử dụng thực phẩm có chất béo trans”. Chất béo trans là gì, vì sao lại gây tác hại?
Ngoài nước uống, hằng ngày cơ thể chúng ta cần được cung cấp đầy đủ 5 chất dinh dưỡng: chất đạm (protid), chất đường bột (glucid), chất béo (lipid), vitamin và chất khoáng. Trong các chất dinh dưỡng, chất béo là thành phần bị yêu lẫn ghét lẫn lộn nhiều nhất. Nó được xem là vịanh hùng với nhiều công trạng như: điều hòa nhiều quá trình chuyển hóa trong cơ thể, vận chuyển các vitamin tan trong dầu (vitamin A, D, E, K), cung cấp các acid béo cần thiết để tạo năng lượng... Đồng thời nó là tội đồ vì là nguyên nhân chủ yếu đưa đến bệnh béo phì, các bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, đột quỵ, kể cả ung thư... Để đánh giá đúng đắn về chất béo, kẻ được mệnh danh “nghịch thường trong dinh dưỡng” này, ta cần có những hiểu biết về các loại chất béo có chứa trong thức ăn thức uống để có sự lựa chọn thích hợp nhằm bảo vệ sức khỏe là vốn quý của ta.
Chất béo thực chất là acid béo được ester hóa, như chất béo có tên triglycerid (xét nghiệm đo mỡ trong máu thấy có ghi chất béo này) là acid béo được ester hóa bởi glycerid. Chất béo được cung cấp từ thực phẩm được chia làm 2 loại: mỡ động vật và dầu thực vật. Ta thường nghe nói dầu thực vật sẽ tốt hơn cho sức khỏe hay tốt cho tim mạch hơn mỡ động vật là do acid béo chứa trong nó là acid béo không no (có chứa nhiều nối đôi trong cấu trúc). Thật ra, không chỉ dầu thực vật mà mỡ động vật, nếu thành phần có chứa acid béo không no cũng đều là loại tốt. Về mặt cấu trúc hóa học, acid béo có trong chất béo thường chứa 3 loại nguyên tố: carbon, hydro và oxy. Công thức của acid béo có chuỗi carbon dài giống như hình con rắn, đầu rắn là nhóm acid-COOH (nên mới gọi là acid béo) và đuôi rắn là nhóm metyl-CH, Nhóm acid đầu có chứa carbon gọi là carbon alpha và nhóm metyl đuôi có chứa carbon gọi là carbon omega. Tùy theo chuỗi carbon của acid béo có chứa nối đôi hay không chứa nối đôi mà ta có 4 loại:
Acid béo no: Còn gọi là acid bão hòa với cấu trúc trong chuỗi carbon không có nối đôi nào cả, chất béo chứa acid béo loại này gọi là chất béo bão hòa, được tìm thấy trong mỡ động vật, bơ, sữa, phó mát, kể cả dầu thực vật là dầu dừa, dầu cọ (nên lưu ý không phải tất cả dầu thực vật đều tốt cho tim mạch và dầu dừa, dầu cọ là loại không tốt). Trong cơ thể ta, gan sẽ dùng chất béo bão hòa để tạo ra cholesterol, vì vậy nếu ăn quá nhiều mỡ động vật có nguy cơ tăng cholesterol trong máu, đặc biệt, cholesterol loại LDL-c là loại cholesterol xấu (nên phân biệt cholesterol xấu là loại không được tăng trong máu trong khi cholesterol tốt còn được ghi HDL-c là loại không được giảm trong máu). Có khuyến cáo, người bình thường mỗi ngày chỉ nên dùng chất béo bão hòa không quá 10% tổng năng lượng do khẩu phần ăn mang đến (con số này là quá cao đối với người dư mỡ trong máu).
Acidbéo không no chứa nhiềunối đôi:Với cấu trúc trong chuỗi carbon chứa 2 nối đôi trở lên, chất béo chứa acid béo loại này được tìm thấy ở dầu mè, dầu hạt hướng dương, dầu đậu nành, dầu hạt bắp. Chất béo không no chứa nhiều nối đôi tốt hơn chất béo bão hòa là do nó làm giảm lượng cholesterol xấu trong máu nhưng có nhược điểm là đồng thời nó cũng làm giảm luôn lượng cholesterol tốt trong máu xuống. Chính vì vậy, khuyến cáo hiện nay khuyên người bình thường mỗi ngày chỉ nên dùng chất béo không no chứa nhiều nối đôi không quá 10% tổng năng lượng do | khẩu phần ăn mang đến.
 Acid béo không no chứa 1 nối đôi: Với cấu trúc trong chuỗi carbon chứa 1 nối đôi duy nhất, chất béo chứa acid béo loại này được tìm thấy trong các dầu thực vật là dầu ôliu, dầu đậu phộng, dầu hạt hạnh nhân... Đặc biệt, acid béo không no chứa một nối đôi có tên là acidomega-3 (do khoảng cách từ carbon omega đến nối đôi có 3 carbon, còn có tên thông dụng là acidoleic) có nhiều trong mỡ một số loại cá ở vùng biển lạnh và sâu là cá tuna (cá ngừ đại dương), cá salmon (cá hồi). Chất béo chứa một nối đôi được xem là tốt cho tim mạch do dùng nó sẽ làm giảm cholesterol xấu trong máu xuống mà không ảnh hưởng đến cholesterol tốt (trong khi chất béo không no chứa nhiều nối đôi lại giảm lượng cholesterol tốt trong máu xuống). Vì vậy, có khuyến cáo người bình thường mỗi ngày nên dùng chất béo không no chứa một nối đôi lên đến 15% tổng năng lượng do khẩu phần ăn mang đến. Thậm chí, để có lợi cho sức khỏe, có thể thay thế chất béo bão hòa và chất béo không no chứa nhiều nối đôi bằng chất béo không no chứa một nối đôi. Cũng do những lợi ích đã được chứng thực, Hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyên nên ăn cáít nhấthai lần trong tuần (loại cá trong mỡ có chứa acid omega-3).
Acid béo dạng trans: Chứa trong chất béo trans (hoặc theo tiếng nước ngoài là trans fat). Chủ yếu là acid béo nhân tạo. Ta biết rằng dầu thực vật chứa acid béo không no ở dạng lỏng. Từ dầu lỏng tự nhiên như dầu bắp, dầu hạt hướng dương, dầu đậu nành, người ta có thể chế biến thành dạng đặc giống như bơ động vật gọilà margarinbằng phản ứng hóa học gọilà “hydrogenhóa”. Khi hydrogen hóa, một số nối đôi của acid béo không no của dầu sẽ được gắn thêm hydron để trở thành bão hòa, trong khi một số nối đôi khác sẽ chuyển thành dạng trans (là một dạng trong cấu trúc lập thể, trong khi các nối đôi trong chất béo tự nhiên ở dạng cis). Tóm lại để chế biến dầu lỏng thành dạng đặc (giống như bơ trông hấp dẫn hơn), người ta đã biến chất béo không no thành chất béo bão hòa và chất béo dạng trans. Chất béo dạng trans được tìm thấy trong margarin, shortening (vì vậy, đừng nghĩ đây là sản phẩm tốt do chế biến từ dầu thục vật), kể cả thức ăn nhanh được chiên với dầu ăn (cooking oil) như: khoai tây chiên, gà rán..., kể cảmìăn liền (gần đây, một số mẫu mìgói được Trung tâm Dịch vụ Phân tích thí nghiệm TPHCM xét nghiệm cho thấy 38% chứa chất béo trans). Nhiều công trình nghiên cứu chứng tỏ dùng nhiều chất béo trans sẽ làm tăng lượng cholesterol toàn phần, làm tăng cholesterol xấu và làm giảm cholesterol tốt trong máu xuống. Như vậy chất béo trans không có lợi, trong khẩu phần ăn càng dùng ít càng tốt. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo cơ thể chỉ nạp tối đa mỗi ngày 3g chất béo trans. Cơ quan FDA của Mỹ yêu cầu các hãng sản xuất thực phẩm chế biến phải ghi rõ thành phần và hàm lượng chất béo dạng trên sản phẩm.
Những thông tin trên cho thấy không nên nhận định đơn giản: hễ dùng mỡ động vật làxấu và dùng dầu thực vật là tốt. Vẫn có mỡ động vật tốt là mỡ một số loại cá ở vùng biển lạnh và sâu. Vẫn có dầu thực vật không tốt, đặc biệt khi dầu thực vật ấy được chế biến thành dạng đặc như margarin hoặc bị chế biến chứa quá nhiều chất béo trans. Nhìn chung, với 4 chất béo được phân loại ở trên, loại tốt nhất cho sức khỏe là chất béo không no chứa một nối đôi, kế tiếp là chất béo không no chứa nhiều nối đôi; loại xấu nhất không phải là chất béo bão hòa mà chính là chất béo dạng trans.
Nên lưu ý:
- Người cao tuổi nên hạn chế tối đa việc dùng chất béo nguồn động vật như mỡ heo, bò, gà... - Hạn chế dùng các thực phẩm chế biến sẵn có sử dụng các loại bơ thực vật (margarin). Cần đọc thành phần dinh dưỡng trên bao bì đóng gói thực phẩm này.
- Tránh dùng nhiều các loại dầu thực vật chứa chất béo không tốt như dầu dừa, dầu cọ. Thay vào đó, dùng các dầu có lợi như dầu ô liu, dầu mè, dầu đậu nành...
 - Hoàn toàn không dùng thực phẩm chứa chất béo dạng trans trên mức cho phép.