TIỀN CHẤT DÙNG LÀM THUỐC LÀ GÌ ?

Trong thời gian gần đây, nhiều phương tiện thông tin đại chúng đưa tin việc tiền chất pseudoephedrine (viết tắt PSE) có trong thành phần thuốc trị cảm cúm nghi ngờ bị lạm dụng để sản xuất ma túy tổng hợp. Pseudoephedrin là một trong những chất gọi là tiền chất dùng làm thuốc. Thế chất này là chất gì mà đòi hỏi phải có sự kiểm soát hết sức chặt chẽ? Tiền chất trong tiền chất dùng làm thuốc dùng để chỉ hóa chất cần có trước để từ đó sản xuất một ma túy nào đó. Đây là chất nhờ nó sẽ thực hiện phản ứng hóa học đơn giản hơn để tổng hợp ma túy thay vì phải thực hiện nhiều phản ứng phức tạp nếu đi từ đầu mà không thông qua tiền chất. Cần lưu ý, tiền chất dùng làm thuốc không phải là chất gây nghiện hay ma túy (nhiều thông tin đại chúng cứ gọi pseudoephedrine là chất gây nghiện) mà là chất từ đó người ta chế tạo ma túy. Mặt tích cực là tiền chất dùng làm thuốc nếu được mua bán, sử dụng đúng quy chế thì đó là thuốc phục vụ công tác khám chữa bệnh, nhưng lại có mặt tiêu cực là tiền chất dùng làm thuốc có thể bị lợi dụng vào việc sản xuất bất hợp pháp ma túy. Ngoài tiền chất dùng làm thuốc còn có những tiền chất khác không được Bộ y tế quản lý mà được Bộ Công thương quản lý, được gọi chung là tiền chất. Năm 2001, Bộ Y tế đã ban hành danh mục tiền chất dùng làm thuốc gồm các chất sau: ephedrine, pseudoephedrine, ergometrine, ergotamine, phenylpropanolamine. Đây là những chất có cấu trúc hóa học gần như tương tự với cấu trúc nhóm ma túy có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương là amphetamine và dẫn chất amphetamine. Có 2 ma túy tổng hợp đang rất thông dụng hiện nay đó là “thuốc lắc” và “ma túy đá”. “Thuốc lắc” chính là methylen-dioxy-methamphetamine (viết tắt là MDMA, nước ngoài gọi là ecstasy), còn “ma túy đá” là methamphetamine (MA), cả hai là dẫn chất amphetamine. Các tiền chất dùng làm thuốc có cấu trúc hóa học khá giống amphetamine. Như cấu trúc và là tên hóa học của amphetamine là l-phenyl-2-aminopropan còn pseudoephedrine là 1-phenyl-2-methylaminopropanol, hai chất này đúng là khá giống nhau. Nếu việc quản lý dự trù mua bán thuốc chứa pseudoephedrine hay các tiền chất khác nằm trong danh mục không chặt chẽ sẽ dẫn đến kẻ gian dùng thuốc này chiết xuất lấy tiền chất như pseudoephedrine ra khỏi thuốc và thực hiện một vài phản ứng hóa học để biến tiền chất dùng làm thuốc này thành thuốc lắc MDMA hay ma túy đá MA là 2 ma túy tổng hợp gây tác hại khá nghiêm trọng ở nước ta hiện nay. Pseudoephedrine nếu dùng đúng sẽ là thuốc cho tác dụng gì? Đây là thuốc có tác dụng cường giao cảm thần kinh (hay trực giao cảm thần kinh) làm co mạch, chống sung huyết niêm mạc mũi, làm nước mũi hết chảy ràn rụa. Do vậy, pseudoephedrine được dùng như một thành phần trong thuốc trị cảm cúm, sổ mũi, trong thuốc hỗ trợ trị viêm xoang, viêm mũi. Cũng do tác dụng cường giao cảm thần kinh (có thể gây tăng huyết áp, loạn nhịp tim) mà thuốc chứa pseudoephedrine không được dùng ό người bị bệnh tăng huyết áp hoặc dùng thận trọng ở người bị | bệnh mạch vành, bệnh tuyến giáp, đái tháo đường. Một tiền chất dùng làm thuốc cũng có tác dụng giống như pseudoephedrine là phenylpropanolamine (PPA) đã bịnhiều nước cấm sử dụng (nước ta hiện nay cũng bắt đầu cấm sử dụng và cấm lưu hành PPA).
Ephedrine được dùng trong đông y với tên là ma hoàng. Trước đây, ephedrine được dùng làm thuốc trị hen suyễn nhưng nay không còn dùng. Ở các nước phương tây, ma hoàng được dùng làm thực phẩm chức năng để hỗ trợ giảm cân và đã bị cảnh giác vì gây tai biến tim mạch ởngười sử dụng. Ergometrine được dùng làm thuốc dự phòng và điều trị băng huyết sau sanh hoặc sẩy thai. Còn ergotamine là thuốc trị chứng nhức nửa đầu.
Bộ Y tế nước ta đã có khuyến cáo các đơn vị sản xuất dược phẩm nghiên cứu thay thế tiền chất pseudoephedrine bằng hoạt chất khác như phenylephrine, xây dựng và triển khai công tác tuyên truyền việc lạm dụng pseudoephedrine trong nhân dân, trong các doanh nghiệp, các đơn vị hoạt động có liên quan đến pseudoephedrine, nhất là khâu xuất nhập khẩu, lưu thông, phân phối, bảo quản, mua bán,... nhằm kiểm soát pseudoephedrine đến sản phẩm cuối cùng đưa đến tay người tiêu dùng.

THUỐC ẢO GIÁC GÂY ĐỘC HẠI

Thời gian qua, thông tin nhiều nữ sinh ở một trường tại quận 4, TPHCM, đã bị ép uống thuốc Recotus được sự quan tâm rất nhiều của dư luận. Trước đây không lâu, nhiều phụ huynh rất lo ngại vì có tình trạng không ít các em học sinh bị dụ dỗ tìm mua thuốc Recotus để “phê”. Vì sao có tình trạng dụ dỗ, lạm dụng và bị ép buộc dùng thuốc Recotus và Recotus là loại thuốc gì?
Thuốc Recotus thực chất là thuốc trị ho trong các trường hợp: Ho do cảm lạnh, cảm cúm, viêm phổi, viêm phế quản... nhờ chứa 3 dược chất: Dextromethorphan được xem là dược chất chính, là một dẫn chất thuộc nhóm thuốc phiện có tác dụng chống ho bằng cách ức chế trung tâm ho ở hành tủy trên não, hai dược chất còn lại là diprophyllin có tác dụng làm giãn phế quản do đó làm giảm ho do co thắt phế quản, lysozym là một enzyme có tác dụng kháng khuẩn bằng cách làm dung giải màng tế bào vi khuẩn. Riêng dextromethorphan là một dẫn xuất (tức có cấu trúc hóa học gần tương tự) của morphin không gây nghiện như các thuốc khác thuộc nhóm thuốc phiện (như codein cũng trị ho và gây nghiện), tuy nhiên dùng lâu ngày vẫn có thể bị lệ thuộc (tức làm người bệnh thấy khó chịu cứ muốn dùng thuốc). Ngoài tác dụng làm giảm ho, dextromethorphan còn có tác dụng phụ khác như: gây ngủ gật, gây ảo giác đặc biệt khi dùng liều cao. Còn diprophyllin là dẫn xuất của theophyllin, có tác dụng làm giãn phế quản do làm giãn cơ trơn, kích thích thần kinh trung ương gây hưng phấn và có thể gây ảo giác, nhưng lại có tác dụng trực tiếp lên tim, huyết áp nên dùng quá liều sẽ gây tăng nhịp tim, loạn nhịp tim, tăng huyết áp rất nguy hiểm. Như vậy, dùng Recotus ở giới trẻ có khả năng có trạng thái lâng lâng, ảo giác và vì không được hướng dẫn sẽ có nguy cơ quá liều. Nếu dùng Recotus quá liều có thể bị buồn nôn, nôn, buồn ngủ, nhìn mờ, rung giật nhãn cầu, bítiểu tiện, mất điều hòa, suy hô hấp, co giật. Cách đây không lâu, một số học sinh lợi dụng tác dụng phụ gây ngủ gà ngủ gật của Recotus và dùng nó để được đưa lên phòng y tế của nhà trường để “nghỉ ngơi”, không phải trả bài đầu giờ vì không thuộc bài. Nguy hại hơn là các em rỉ tai nhau về tác dụng gây ảo giác của Recotus, đã dùng thuốc để có cảm giác “phê” lâng lâng, để được sảng khoái, có được “sự hưng phấn”, không lo sợ khi trả bài. Một số lạm dụng Recotus là do rỉ tai với nhau là thuốc tạo sự thông minh, giúp tăng trí nhớ, thật sự không phải như vậy.
Như vậy đã có sự lạm dụng thuốc ở giới trẻ nói chung, trong đó có các học sinh, chủ yếu là nhằm có các tác dụng gọi là ảo giác. Chất gây ảo giác nói chung, trong đó có thuốc gây ảo giác, được xem là chất khi sử dụng sẽ gây hư hỏng tạm thời về mặt ý thức đưa đến sự nhận định sai lệch, méo mó về không gian, thời gian. Có những chất gây ảo giác thật sự và là chất cấm, như cần sa (tiếnglóng hiện nay gọi là bồ đà). Có những chất là ma túy thật sự lại gây ảo giác, như thuốc phiện, heroin (tức bạch phiến, hàng trắng), cocain. Có những chất kích thích cũng gây ảo giác, như amphetamine, “thuốc lắc” (tức ecstasy, MDMA: methylendioxy methamphetamin), “hàng đá” (methamphetamin). Nay có thuốc loại thông thường, được bán tự do nhưng có thể gây ảo giác như Recotus đang và sẽ gây khốn khổ cho các phụ huynh có con em lạm dụng nó.
Vì sao giới trẻ lại tìm đến hoặc bị dụ dỗ, thậm chí là bị ép buộc dùng chất gây ảo giác? Dựa vào đặc điểm của lứa tuổi này, người ta cho rằng giới trẻ sử dụng chấtảo giác vì sự tò mò, sự đua đòi bắt chước ở một số thanh thiếu niên hoặc vì muốn trải qua cảm giác được làm một việc bị ngăn cấm. Còn có một số yếu tố bên ngoài tác động vào giới trẻ có thể kể như: sự lôi cuốn rù quến của bạn bè, sự bất hòa không yên ấm trong gia đình, áp lực của việc học tạo sự chán nản, lo âu. Ta cũng cần ghi nhận có tình trạng dụ dỗ hay ép buộc giới trẻ dùng chất gây ảo giác. Cần nên biết, bọn gian mua bán ma túy luôn tìm cách tiêu thụ càng nhiều càng tốt hàng cấm của chúng. Cách nay mấy chục năm, người viết đã có bài báo cảnh báo tệ nạn tiêm chích ma túy ngay trước cổng một số trường học, mời mọc giới trẻ dùng thử ma túy để bọn bán ma túy bán nhiều hơn. Nay có thể bọn gian thay đổi phương cách tiếp thị. Ban đầu bọn chúng dụ dỗ hay ép buộc các em học sinh dùng những thứ có vẻ không hại gì nhưng gây ảo giác (như Recotus). Nguy hại là nếu lạm dụng chất gây ảo giác lâu ngày sẽ rất dễ đi đến sử dụng thuốc gây nghiện, thậm chí là sử dụng ma túy. Bởi vì, khi đã quen với cảm giác “phê” với ảo giác, các em rất dễ và sau đó có sự cưỡng chế, tìm đến thứ tạo cảm giác “phê” mạnh hơn. Các em đã quen dùng Recotus để “phê” thì sẽ có lúc chơi thử “bồ đà”, “thuốc lắc”, “hàng đá”. Đến lúc này sẽ chơi thử heroin, từ hút đến tiêm chích, và rồi, chắc chắn sự nhiễm HIV/AIDS đến để gióng hồi chuông báo tử. Bọn gian buôn bán ma túy có quan tâm gì đến các tác hại nghiêm trọng vừa kể đâu, chúng chỉ vỗ tay sung sướng vì bán được ma túy. Vụ việc nhiều nữ học sinh bị ép uống Recotus ở quận 4 vừa mới đây cần được xem là sự cảnh tỉnh rất nghiêm trọng.
Nhân đây, xin nói thêm về việc phòng chống lạm dụng thuốc độc hại ở giới trẻ, đặc biệt là các học sinh. Gia đình phải là nơi đầu tiên kiểm soát việc dùng thuốc ở trẻ. Cần quản lý chặt chẽ tủ thuốc gia đình cũng như theo dõisát các biểu hiện bất thường khi trẻ lạm dụng thuốc tác động lên hệ thần kinh (lừ đừ, buồn ngủ). Nhà trường cần phối hợp với ngành y tế để có các buổi sinh hoạt giới thiệu kiến thức cơ bản về dùng thuốc cho trẻ, hướng đến xây dựng môn học “Sức khỏe học đường” (có phần đề cập đến tác hại của ma túy, tác hại của dược phẩm, trong đó có thuốc kê đơn và cả thuốc không kê đơn như Recotus, nếu dùng không đúng thì tác hại là khôn lường). Các nhà thuốc quản lý chặt hơn việc bán thuốc, nếu giới trẻ, đặc biệt là các em học sinh mua thuốc, phải sàng lọc hỏi thật kỹ, nếu có gì nghi ngờ như trường hợp mua thuốc Recotus không dùng vào mục đích điều trị thì cương quyết không bán.

TÁC HẠI CỦA RƯỢU

Thức uống có rượu được dùng rất nhiều hiện nay chính là bia.
Rượu và bia khác nhau ở chỗ chứa độ cồn khác nhau. Chất làm người ta say xỉn chứa trong rượu và cả trong bia là ethanol tức cồn ethylic. Rượu chứa cồn cao độ, như rượu đếhay Whiskey chứa cồn 40% hay trên, trong khi bia chứa cồn thấp độ, chứa 2-4%. Bởi chứa cồn thấp nên người ta dễ hiểu lầm uống bia nhiều chẳng việc gì. Có người còn ví von bia là cô gái hiền hậu hấp dẫn nhưng thật ra, uống bia quá nhiều cũng không tốt, ta cần xem bia là kẻ nham hiểm chứ không phải hiền hậu hấp dẫn. Khi nói đến tác hại của rượu cần phải hiểu đó chính là tác hại của RUỢUBIA.
Rượu bia là kẻ nham hiểm bởi vì nó không làm cho kẻ uống nó ngộ độc tức khắc (trừ trường hợp ngộ độc nặng như kiểu uống rượu dỏm chứa độc chất methanol đưa đến tử vong) mà phá hủy cơ thể người dùng nó một cách ngấm ngầm, để đến lúc nào đó trở thành người nghiện rượu gục xuống trong cơn bạo bệnh không thể cứu chữa được. Cơ quan chịu tác động nhiều nhất của rượu là hệ thần kinh trung ương (uống rượu lâu dài sẽ bị nghiện rượu là bệnh được xếp vào nhóm “bệnh tâm thần” ngang hàng của nghiện ma túy), kế đến là gan (dễ bị xơ gan), rồi đến dạ dày tá tràng (bị viêm loét dạ dày-tá tràng, xuất huyết tiêu hóa), v.v...
Rượu bia có cung cấp năng lượng nhưng lại là năng lượng “vô bổ”, tạo phản ứng đốt cháy trong cơ thể để người uống rượu bia có cảm giác nóng bừng lên thôi, chứ không thêm sức lực. Người uống rượu bia thấy nóng, có vẻ chịu được rét nhưng xin lưu ý hiện tượng có cảm giác nóng bừng là do rượu làm giãn mạch máu (uống thấy mặt đỏ là vậy), có tác dụng tải nhiệt qua da chứ không làm tăng thân nhiệt để chịu lạnh rét. Chính hiện tượng này làm người uống rượu bia dễ mất cảnh giác không sợ lạnh, ngủ mình trần rất dễ bị cảm lạnh mà nhiều người gọi là “trúng gió”. Ta nên lưu ý hiện tượng này để đừng uống say xỉn quá, ngủ bạ đâu đó, không có sự che đắp cần thiết đưa đến bệnh hoạn.
Nhiều người trông thấy kẻ uống rượu bia như bị “kích thích”, nói năng có khi bất chấp, dám có những hành động bình thường không dám làm nên tưởng rằng rượu có tác dụng “kích thích”. Thực ra, rượu bia chỉ có tác dụng “ức chế” (trong Dược lý học, rượu được xếp vào nhóm thuốc gây mê tức nhóm thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương). Rượu bia ức chế vùng vỏ não điều khiển sự tự chủ, biết kiềm chế của chúng ta. Nếu vùng vỏ não này bị ức chế, ta sẽ tung hê, dám làm những việc trước đây không dám làm và cứ tưởng là bị kích thích.Uống nhiều rượu bia sẽ làm tê liệt hệ thần kinh tự chủ, sự phán đoán và ý thức đạo đức. Hậu quả tất nhiên của việc lạm dụng rượu bia sẽ đến là hành vi bạo lực, tai nạn giao thông và tệ nạn xã hội. Uống nhiều rượu bia, người ta dễ buông thả trong tệ nạn “bia ôm” và bất kể trong vấn đề “an toàn tình dục”. Không an toàn trong hoạt động tình dục chắc chắn vào cửa tử là nhiễm HIV/AIDS.
Khi uống rượu bia vào người ta dễ có cảm tưởng là có thêm “sức mạnh” về tình dục (đương nhiên không bị “xỉn” quá, vì “xỉn” đồng nghĩa với tạm thời bất lực đối với người đàn ông). Chính sự ngộ nhận này đưa đến mối nguy hại cho thế hệ mai sau. Người ta hay mượn rượu để đưa đến chuyện ái ân và đã có nghiên cứu cho thấy cha mẹ nghiện rượu là con sinh ra èo uột, kém thông minh, chậm lớn, dễ mắc bệnh tâm thần. Về tác hại của rượu bia đối với sức khỏe tâm thần, ở nước ta trong năm 2010 đã có thống kê tại viện sức khỏe tâm thần Trung ương cho thấy cứ 100 bệnh nhân nhập viện trị bệnh tâm thần thì có 14 người có liên quan đến rượu. Các biểu hiện thường gặp của bệnh nhân có vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến rượu là loạn thần, có biểu hiện hoang tưởng hoặc bị ảo giác, bạo lực với người thân, dễ gây gỗ với gia đình và người xung quanh. Đặc biệt ở người nghiện rượu lâu năm nếu đột ngột ngưng không uống rượu sẽ bị một loại rối loạn tâm thần rất nặng nề gọi là cuồng sảng rượu cấp (delirium tremens) Triệu chứng rối loạn xảy ra khi người nghiện không tiếp tục uống rượu 1-3 ngày (còn được gọi là hội chứng cai rượu) như: lú lẫn tâm thần, run tay, ảo thị giác (như thấy rắn, côn trùng bò trong người của mình), mất nước, rối loạn chất điện giải, lên cơn co giật, rối loạn tim mạch trầm trọng... Trường hợp này phải được chữa trị tại bệnh viện. Những điều trình bày trên cho thấy các tác hại của rượu bia. Ta cần biết rượu bia khi được uống được hấp thu như thế nào để gây hại ra Sao. Sau khi uống rượu bia khoảng 15 phút, một nửa lượng cồn chứa trong rượu bia đã được hấp thu vào máu và phân phối đều khắp cơ thể. Sau khoảng 1 giờ thì toàn bộ rượu sẽ được hấp thu. Rất nhanh chóng, rượu vượt qua hàng rào máu não để tác động lên hệ thần kinh trung ương. Trước hết, chức năng phán đoán và suy luận của vỏ não bị tác động. Sau đó đến chức năng cảm giác và phối hợp các động tác bị ảng hưởng nặng nề. Nếu cứ tiếp tục uống, nồng độ rượu sẽ tăng dần lên trong máu và gây hại từ mức độ nhẹ đến nặng. Khi uống với mức độ vừa phải, nồng độ rượu trong máu (BloodAlcohol Concentration:BAC) ở mức 0,5g/l (0,05%) người uống rượu có cảm giác lâng lâng dễ chịu, (nên lưu ý, ở Na Uy nồng độ giới hạn cho phép người lái xe là: 0,05%). Khi BAC tăng mức 0,5-1,5g/l (0,05-0,15%), người uống rượu bắt đầu mất sự kiểm soát bản thân. Khi BAC= 1,5-2,g/l (0,15-0,2%) cơ thể bắt đầu bị ngộ độc; BAC = 3-4 g/l (0,3-0,4%): hôn mê, BAC trên 4 g/l (>0,4%): tử vong. Liều độc của rượu thay đổi theo sự dung nhận của từng người có người mạnh “đô” uống rất nhiều rượu chẳng bị việc gì, nhưng có người chỉ uống vài hớp rược là mặt đỏ bừng gần như say xỉn), liều độc thường là 420-560g rượu nguyên chất/người nặng 70kg.

RƯỢU BIA PHA NGỌT HÓA HẠI

Trong cuộc vui người ta thường uống bia. Bia nên gọi cho đầy đủlàrượubiabởi vì bất cứloạibia nào cũng chứarượu tức cồn tuyệt đối với hàm lượng thường là 2-4%. Và mọi thứ nguy hại của rượu bia chính là tác dụng của rượu nếu uống không chừng mực. Đối với cơ thể ta, rượu hay cồn được xem như là chất độckhông hơn không kém. Khi uống thức uống có cồn, rất nhiều cơ quan trong cơ thể ta phải làm việc cật lực để giải độc và thường là thích ứng với sự độc này. Rượu bia là kẻ nham hiểm bởi vì nó không làm cho kẻ uống nó ngộ độc tức khắc (trừ trường hợp ngộ độc nặng như kiểu uống rượu dỏm chứa độc chất methanol đưa đến tử vong) mà phá hủy cơ thể người dùng nó một cách ngấm ngầm, để đến lúc nào đó trở thành người nghiện rượu gục xuống trong cơn bạo bệnh không thể cứu chữa được. Cơ quan chịu tác động nhiều nhất của rượu bia là hệ thần kinh trung ương (uống rượu lâu dài sẽ bị nghiện rượu là bệnh được xếp vào nhóm “bệnh tâm thần” ngang hàng của nghiện ma túy), kế đến là gan (dễ bị xơ gan), rồi đến dạ dày tá tràng (bị viêm loét dạ dày-tá tràng, xuất huyết tiêu hóa), v.v...
Hiện nay có cách uống rượu bia mới nhìn qua tưởng là có ích nhưng suy tính kỹ thì có thể gây hại khôn lường. Đó là uống rượu bia pha với nước ngọt. Nước ngọt đây là nước giải khát có đường (sucrose). Khi pha với rượu bia làm cho vị bia không còn đắng mà thật quyến rũ đối với các vị nam giới “hảo ngọt” (hảo ngọt đây là thích vị ngọt thật sự chứ không ám chỉ người thích các “em gái ngọt ngào”). Có người thích pha rượu bia với ngước ngọt tăng lực vì thích ngoài vị ngọt còn muốn sự “tăng lực” hỗ trợ cho bia. Có người thích pha rượu bia với nước ngọt trong suốt như nước giải khát “7 up” để cho người khác không biết mình đã pha bia với nước ngọt và vị của sự pha này cũng khá là ngon (đặc biệt đối với người mới bắt đầu uống rượu bia chưa quen vớibia nguyên chất).
Đối với người không uống rượu bia thường xuyên, lâu lâu mới uống và uống không nhiều thì việc pha ngọt cho rượu bia không có gì đáng lo ngại. Nhưng nếu uống thường xuyên và chính vị ngọt khoái khẩu làm cho uống thật nhiều thì hệ lụyxấu sẽ xảy ra
 Đường chứa rất nhiều trong nước ngọt có thể trở thành tội đồ. Trong dạng thuốc si rô, đường là “chất dẫn” rất tốt, giúp cho tác dụng nhiều loại thuốc có tác dụng nhanh hơn và tốt hơn. Cũng thế, đường có trong rượu biaphanước ngọt làm cho rượu trongbia phân tán nhanh khắp nơi trong cơ thể người uống, đặc biệt là hệ thần kinh, do đó làm cho người ta dễ say xỉn nhanh vànhiều hơn.
Đường là chất dinh dưỡng tạo năng lượng nên dùng chừng mực. Nếu người uống rượu bia pha nước ngọt quá nhiều sẽ dễ bị dư cân béo phì. Đặc biệt, nếu người đó đã bị rối loạn gọi là “hội chứng chuyển hóa” hoặc đã bị “tiền đái tháo đường” sẽ dẫn đến đái tháo đường type 2 thật sự. Chính do khoái khẩu khi uống rượu bia pha nước ngọt dễ đi đến uống rượu bia thường xuyên hơn. Và cũng do một tính chất gây lệ thuộc của rượu là làm “lờn rượu”, tức càng ngày càng phải uống nhiều hơn để cảm thấy thế mới đã. Thế là, chẳng chóng thì chầy người thích uống rượu bia pha nước ngọt sẽ đi đến nghiện rượu bia. Và cũng như nghiện ma túy, nghiện rượu bia rất khó cai nghiện để dứt bỏ, và biết bao hệ lụy xảy ra do sư nghiện này.

THUỐC LÁ ĐIỆN TỬ : HẠI HAY VÔ HẠI ?

Thời gian gần đây, người ta quảng cáo rất rầm rộ, đặc biệt trên Internet, về thuốc lá điện tử (e-cigarettes tức electronic cigarattes). Những lời có “cánh” đã tô vẽ thuốc lá điện tử là sản phẩm vô hại đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng và cố tình làm mờ đi sự kiện đây là thứ chưa chứng thực khoa học về an toàn và hiệu quả. Ngườixem quảng cáo nhiều khi không biết mục đích dùng thuốc lá điện tử là để đi đến cai hẳn thuốc lá thật chứ không phải tiếp tục phì phèo với điếu thuốc điện tử trên tay và tiếp tục mãi. Câu quảng cáo: “Thuốc lá điện tử sẽ trở thành một văn hóa thuốc lá lành mạnh trong tương lai” xem ra là rất nguy hiểm. Nhiều người đều biết hút thuốc lá là có hại. Chính khói thuốc lá là thứ gây độc hại không chỉ cho người hút nó mà cho người xung quanh hít phải nó (gọi là người hút thuốc lá thụ động). Trong khói thuốc lá có chứa hàng trăm chất độc trong đó có CO (carbon oxid là khí rất độc gây chết với lượng rất nhỏ), các chất gây ung thư (có nhóm benzopyren gây ung thư phổi, da, bàng quang là chất mới đây phát hiện có chứa trong mì ăn liền do Hàn Quốc sản xuất). Riêng nicotin chính là chất gây nghiện và rất có hại về tim mạch cho người hút thuốc lá. Thuốc lá hằng năm gây tổn thất biết bao nhiêu cho con người từ tổn thất do bệnh tật (hút thuốc lá được kể là một thủ phạm nặng ký gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD) đến tử vong (theo thống kê của bang Los Angeles của Mỹ hằng năm có gần 500.000 người Mỹ chết sớm do hút thuốc chủ động và thụ động). Nghiện thuốc lá cũng giống như nghiện ma túy, rất khó bỏ gọi là cai. Muốn cai thuốc lá nhiều khi phải bắt buộc dùng thuốc. Thuốc dùng cai thuốc lá có dạng uống (Nicostop), nhưng người ta thích dùng dạng băng dán (Nicopatch, Nicoderm TTS) dán lên da để thuốc phóng thích nicotin xuyên da vào máu. Các thuốc cai thuốc lá vừa kể đều đã trải qua nghiên cứu để chứng thực hiệu quả là an toàn và được cơ quan FDA Mỹ chấp thuận dùng trong điều trị.
Thuốc lá điện tử ra đời như thế nào?
 Người nghiện thuốc lá trước hết là do nghiện nicotin. Nicotin chính là chất gây nghiện, nó gây cho người quen sử dụng nó dài ngày sự lệ thuộc bắt buộc phải dùng tiếp, nếu không sẽ vật vã khó chịu, người nghiện thuốc lá không chỉ nghiện nicotin mà còn nghiện cung cách hút thuốc, tức cách rít hơi thuốc lá, nhả khói, tay kẹp điếu thuốc. Thuốc lá điện tử ra đời đáp ứng hai loại nghiện này: cung cấp nicotin để chữa nghiện do thiếu nicotin và có hình dạng, cấu trúc giống như điếu thuốc thật để người nghiện phì phà rít hơi và nhả khói trông như hút thật. Giống như điếu thuốc lá thật, thuốc lá điện tử có 2 phần: đầu lọc chứa nicotin và hỗn hợp chất tạo mùi thơm, thân là ống thay Vì chứa thuốc lá thực chất là một thiết bị điện tử khi kích hoạt Sẽ phun hỗn hợp hơi để đi qua đầu lọc, hòa tan nicotin và chất tạo mùi thơm. Khi người hút rít hơi thuốc, hơi nicotin và mùi thơm sẽ vào miệng và hệ hô hấp như khói thuốc. Thuốc lá điện tử cũng giống như thuốc lá thực thụ ở chỗ đầu điếu thuốc có đèn phát sáng màu đỏ, khi rít thuốc, đèn cháy trông như đốm lửa thật và đầu điếu thuốc tỏa hơi trông như làn khói thật.
Thuốc lá điện tử có gây tác hại?
Người nghiện hút thuốc lá do lệ thuộc nicotin không thể đột ngột dứt bỏ việc hút nên phải dùng biện pháp cung cấp nicotin để rồi giảm dần việc cung cấp và đi đến chỗ dứt bỏ, không cần cung cấp nicotin nữa. Nếu xem dùng thuốc lá điện tử là biện pháp để người nghiện hút thuốc lá giảm dần hút để cai hẳn việc hút thuốc thì việc dùng nó có thể chấp nhận được. Để cai bằng thuốc lá điện tử, người nghiện phải có sự quyết tâm, hút thuốc lá điện tử trong một thời gian ngắn, giảm dần tần số và liều lượng hút, để rồi bỏ thuốc lá hoàn toàn thì đó là biện pháp tốt. Tuy nhiên, cho tới nay người ta chưa thật sự đánh giá được hiệu quả và an toàn của hút thuốc lá điện tử. Cơ quan FDA Mỹ đã ra cảnh báo về sự thiếu thử nghiệm lâm sàng khoa học chứng thực độ an toàn của thuốc lá điện tử. Một số nước như Úc, Canada và Brasil nhận thấy thuốc lá điện tử có hại nhiều hơn có lợi nên đã cấm lưu hành sử dụng trong nước họ. Nếu suy xét kỹ, ta thấy thuốc lá điện tử có thể có 3 vấn đề không có lợi sau:
1. Thuốc lá điện tử chưa được chứng minh một cách độc lập là không gây độc. Nicotin và hỗn hợp hơi dùng trong thuốc lá điện tử hiện nay vẫn chưa được FDAMỹ thừa nhận trong điều trị. Nicotin ở đây không hề nguyên chất mà có thể bị nhiễm nhiều tạp chất có hại cho sức khỏe. Nicotin không tan trong nước nên hỗn hợp hơi hòa tan trong thuốc lá điện tử phải là dung môi hữu cơ và được xác định là propylen glycol hoặc dietylen glycol là các chất độc hại cho sức khỏe con người.
2. Thuốc lá điện tử không giúp được cai thuốc lá được dễ dàng. Trái lại, chính việc tiếp tục phì phèo điếu thuốc dù là thuốc lá điện tử làm cho người ta hoặc dùng luôn thuốc lá điện tử hoặc trở lại hút thuốc lá thật. Trong một nghiên cứu của Polosa và cộng sự thử trên 40 người nghiện hút thuốc lá tình nguyện hút thuốc lá điện tử, có 22% người bỏ thuốc lá thật nhưng hầu hết tiếp tục hút thuốc lá điện tử!
3. Quảng cáo thuốc lá điện tử thường là tiếp thị có “cánh”, quyến rũ người chưa hút thành người hút thuốc. Chính câu quảng cáo “Thuốc lá điện tử sẽ trởthành văn hóa hút thuốc lành mạnh trong tương lai”, kèm với tiếp thị: “Thuốc lá điện tử rất an toàn so với hút thuốc lá thật!”, và với hình ảnh giới thiệu người hút thuốc lá điện tử có thể hút ở mọi nơi cấm hút thuốc lá do họ phà hơi không phải là khói thuốc lá, làm cho giới trẻ chưa từng hút thuốc lá sẽ bị hấp dẫn và tập hút thuốc lá. Chính bác sĩ Ira J. Strumpf, phát ngôn viên của Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ, đã bày tỏ lo ngại sâu sắc là thuốc lá điện tử được quảng cáo không chỉ nhằm đến đối tượng cai thuốc lá mà còn cả cho số lượng đông đảo người trước kia chưa hề hút thuốc.

THUỐC LÁ ĐIỆN TỬ : HẠI HAY VÔ HẠI ?

Thời gian gần đây, người ta quảng cáo rất rầm rộ, đặc biệt trên Internet, về thuốc lá điện tử (e-cigarettes tức electronic cigarattes). Những lời có “cánh” đã tô vẽ thuốc lá điện tử là sản phẩm vô hại đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng và cố tình làm mờ đi sự kiện đây là thứ chưa chứng thực khoa học về an toàn và hiệu quả. Ngườixem quảng cáo nhiều khi không biết mục đích dùng thuốc lá điện tử là để đi đến cai hẳn thuốc lá thật chứ không phải tiếp tục phì phèo với điếu thuốc điện tử trên tay và tiếp tục mãi. Câu quảng cáo: “Thuốc lá điện tử sẽ trở thành một văn hóa thuốc lá lành mạnh trong tương lai” xem ra là rất nguy hiểm. Nhiều người đều biết hút thuốc lá là có hại. Chính khói thuốc lá là thứ gây độc hại không chỉ cho người hút nó mà cho người xung quanh hít phải nó (gọi là người hút thuốc lá thụ động). Trong khói thuốc lá có chứa hàng trăm chất độc trong đó có CO (carbon oxid là khí rất độc gây chết với lượng rất nhỏ), các chất gây ung thư (có nhóm benzopyren gây ung thư phổi, da, bàng quang là chất mới đây phát hiện có chứa trong mì ăn liền do Hàn Quốc sản xuất). Riêng nicotin chính là chất gây nghiện và rất có hại về tim mạch cho người hút thuốc lá. Thuốc lá hằng năm gây tổn thất biết bao nhiêu cho con người từ tổn thất do bệnh tật (hút thuốc lá được kể là một thủ phạm nặng ký gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính COPD) đến tử vong (theo thống kê của bang Los Angeles của Mỹ hằng năm có gần 500.000 người Mỹ chết sớm do hút thuốc chủ động và thụ động). Nghiện thuốc lá cũng giống như nghiện ma túy, rất khó bỏ gọi là cai. Muốn cai thuốc lá nhiều khi phải bắt buộc dùng thuốc. Thuốc dùng cai thuốc lá có dạng uống (Nicostop), nhưng người ta thích dùng dạng băng dán (Nicopatch, Nicoderm TTS) dán lên da để thuốc phóng thích nicotin xuyên da vào máu. Các thuốc cai thuốc lá vừa kể đều đã trải qua nghiên cứu để chứng thực hiệu quả là an toàn và được cơ quan FDA Mỹ chấp thuận dùng trong điều trị.
Thuốc lá điện tử ra đời như thế nào?
 Người nghiện thuốc lá trước hết là do nghiện nicotin. Nicotin chính là chất gây nghiện, nó gây cho người quen sử dụng nó dài ngày sự lệ thuộc bắt buộc phải dùng tiếp, nếu không sẽ vật vã khó chịu, người nghiện thuốc lá không chỉ nghiện nicotin mà còn nghiện cung cách hút thuốc, tức cách rít hơi thuốc lá, nhả khói, tay kẹp điếu thuốc. Thuốc lá điện tử ra đời đáp ứng hai loại nghiện này: cung cấp nicotin để chữa nghiện do thiếu nicotin và có hình dạng, cấu trúc giống như điếu thuốc thật để người nghiện phì phà rít hơi và nhả khói trông như hút thật. Giống như điếu thuốc lá thật, thuốc lá điện tử có 2 phần: đầu lọc chứa nicotin và hỗn hợp chất tạo mùi thơm, thân là ống thay Vì chứa thuốc lá thực chất là một thiết bị điện tử khi kích hoạt Sẽ phun hỗn hợp hơi để đi qua đầu lọc, hòa tan nicotin và chất tạo mùi thơm. Khi người hút rít hơi thuốc, hơi nicotin và mùi thơm sẽ vào miệng và hệ hô hấp như khói thuốc. Thuốc lá điện tử cũng giống như thuốc lá thực thụ ở chỗ đầu điếu thuốc có đèn phát sáng màu đỏ, khi rít thuốc, đèn cháy trông như đốm lửa thật và đầu điếu thuốc tỏa hơi trông như làn khói thật.
Thuốc lá điện tử có gây tác hại?
Người nghiện hút thuốc lá do lệ thuộc nicotin không thể đột ngột dứt bỏ việc hút nên phải dùng biện pháp cung cấp nicotin để rồi giảm dần việc cung cấp và đi đến chỗ dứt bỏ, không cần cung cấp nicotin nữa. Nếu xem dùng thuốc lá điện tử là biện pháp để người nghiện hút thuốc lá giảm dần hút để cai hẳn việc hút thuốc thì việc dùng nó có thể chấp nhận được. Để cai bằng thuốc lá điện tử, người nghiện phải có sự quyết tâm, hút thuốc lá điện tử trong một thời gian ngắn, giảm dần tần số và liều lượng hút, để rồi bỏ thuốc lá hoàn toàn thì đó là biện pháp tốt. Tuy nhiên, cho tới nay người ta chưa thật sự đánh giá được hiệu quả và an toàn của hút thuốc lá điện tử. Cơ quan FDA Mỹ đã ra cảnh báo về sự thiếu thử nghiệm lâm sàng khoa học chứng thực độ an toàn của thuốc lá điện tử. Một số nước như Úc, Canada và Brasil nhận thấy thuốc lá điện tử có hại nhiều hơn có lợi nên đã cấm lưu hành sử dụng trong nước họ. Nếu suy xét kỹ, ta thấy thuốc lá điện tử có thể có 3 vấn đề không có lợi sau:
1. Thuốc lá điện tử chưa được chứng minh một cách độc lập là không gây độc. Nicotin và hỗn hợp hơi dùng trong thuốc lá điện tử hiện nay vẫn chưa được FDAMỹ thừa nhận trong điều trị. Nicotin ở đây không hề nguyên chất mà có thể bị nhiễm nhiều tạp chất có hại cho sức khỏe. Nicotin không tan trong nước nên hỗn hợp hơi hòa tan trong thuốc lá điện tử phải là dung môi hữu cơ và được xác định là propylen glycol hoặc dietylen glycol là các chất độc hại cho sức khỏe con người.
2. Thuốc lá điện tử không giúp được cai thuốc lá được dễ dàng. Trái lại, chính việc tiếp tục phì phèo điếu thuốc dù là thuốc lá điện tử làm cho người ta hoặc dùng luôn thuốc lá điện tử hoặc trở lại hút thuốc lá thật. Trong một nghiên cứu của Polosa và cộng sự thử trên 40 người nghiện hút thuốc lá tình nguyện hút thuốc lá điện tử, có 22% người bỏ thuốc lá thật nhưng hầu hết tiếp tục hút thuốc lá điện tử!
3. Quảng cáo thuốc lá điện tử thường là tiếp thị có “cánh”, quyến rũ người chưa hút thành người hút thuốc. Chính câu quảng cáo “Thuốc lá điện tử sẽ trởthành văn hóa hút thuốc lành mạnh trong tương lai”, kèm với tiếp thị: “Thuốc lá điện tử rất an toàn so với hút thuốc lá thật!”, và với hình ảnh giới thiệu người hút thuốc lá điện tử có thể hút ở mọi nơi cấm hút thuốc lá do họ phà hơi không phải là khói thuốc lá, làm cho giới trẻ chưa từng hút thuốc lá sẽ bị hấp dẫn và tập hút thuốc lá. Chính bác sĩ Ira J. Strumpf, phát ngôn viên của Hiệp hội Phổi Hoa Kỳ, đã bày tỏ lo ngại sâu sắc là thuốc lá điện tử được quảng cáo không chỉ nhằm đến đối tượng cai thuốc lá mà còn cả cho số lượng đông đảo người trước kia chưa hề hút thuốc.

THUỐC TRỊ MỤN GÂY HẠI

Báo chí có đưa tin một phụ nữ người Pháp vừa đâm đơn kiện bác sĩ da liễu vì người này đã kê toa thuốc trị mụn trứng cá cho con trai bà và khiến chàng trai trẻ do dùng thuốc đã thay đổi thái độ, hành vi và sau cùng tự tử chết. Thuốc được nêu là isotretinoin, ở Pháp có tên là Curacné hoặc Procuta. Isotretinoin là thuốc trị mụn trứng cá nặng nhưng cũng là loại thuốc gây nhiều tác hại trầm trọng nếu dùng tùy tiện, không đúng cách và không tuân thủ một số điều.
Trước khi nói đến thuốc trị mụn có thể gây hại là isotretinoin, xin có đôi điều nói về mụn trứng cá ở thanh niên. Ta cần biết mụn trứng cá nhiều khi chỉ là hiện tượng sinh lý bình thường của cơ thể. Đa số các thanh niên đến tuổi hoặc vừa qua tuổi dậy thì đều nổi mụn trứng cá ở mặt. Nổi mụn ở tuổi dậy thì được xem là hiện tượng tự nhiên do sựphát triển mạnh các nội tiết tố sinh dục trong cơ thể và hiện tượng này có thể kéo dài một thời gian sau này nữa. Các bạn trẻ có thể làm giảm nổi mụn bằng cách:
- Ăn uống điều độ (nên ăn nhiều rau quả trái cây để tăng cường chất bổ dưỡng và tránh táo bón);
- Không lạm dụng những gia vị cay nóng hoặc thức uống kích thích như cà phê, trà...;
- Tránh lo lắng phiền muộn (lạc quan thoải mái trong cuộc sống có thể giúp cải thiện rối loạn kể cả chuyện nổi mụn);
- Rửa mặt hằng ngày khoảng 4-5 lần với nước thường hoặc nước pha muối (pha 1 hoặc 2 muỗng cà phê muối ăn vào 1 lít nước), lưu ý tránh sử dụng xà bông không thích hợp với da mặt làm mụn nổi nhiều hơn;
- Luôn đội mũ khi ra nắng.
Nếu thấy nổi mụn nhiều, đặc biệt có dấu hiệu viêm nhiễm, có thể tự mua và dùng loại thuốc bôi cho tác dụng tại chỗ như thuốc bôi ngoài da chứa benzoyl peroxyd hoặc thuốc bôi chứa kháng sinh như erythromycin hoặc clindamycin. Các thuốc bôi loại này có tác dụng làm tiêu nhân mụn và diệt vi khuẩn gây viêm nhiễm ởmụn. Khi dùng loại thuốc trị mụn bôi ngoài da, nên bôi thử trên một vùng nhỏ phần da mỏng ở mặt truớc cẳng tay, để yên trong 6-8 giờ, nếu không thấy phản ứng gì đặc biệt mới bôi lên mặt, và chỉ bôi chỗ mụn.
Nếu tình trạng mụn nặng, có thể bôi một số thuốc trị mụn khác nhưng thuốc loại này cần được bác sĩ chuyên khoa da liễu chỉ định và huớng dẫn sử dụng. Đặc biệt, nếu có nhiễm khuẩn nặng (mụn bọc có mủ), bác sĩ phải cho dùng thêm thuốc uống là kháng sinh và phải uống trong thời gian dài có khi là nhiều tháng. Đối với người nữ bị nổi mụn, mặc dù người nữ còn rất trẻ chưa lập gia đình, bác sĩ có thể cho dùng thuốc là nội tiết tố (hormone) đặc biệt là thuốc tránh thai. Vì sao phải dùng thuốc là hormone để trị mụn? Bởi vì, không chỉ ở các em nam khi đến tuổi dậy thì, cơ quan sinh dục phát triển, bài tiết hormone sinh dục nam là testosterone làm tuyến bã ở da mặt hoạt động quá đáng đưa đến nổi mụn, mà trong cơ thể người nữ vẫn có testosteron tuy rất ít. Vì thế, ở người nữ vẫn có thể bị nổi mụn. Đối với người trưởng thành, thậm chí ở tuổi trung niên vẫn có thể bị mụn chính do không có sự cân bằng các hormone sinh dục, hormone sinh dục nam hoạt động quá đáng. Trong điều trị mụn có khi phải dùng thuốc hormone sinh dục nữ và chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có trường hợp bác sĩ chỉ định dùng thuốc tránh thai cho phụ nữ (tuyệt đối không dùng cho nam giới). Bởi vì thuốc tránh thai chính là thuốc chứa hormone sinh dục nữ (như thuốc tránh thai phối hợp thông dụng chứa cả estrogen và progesteron là 2 hormone sinh dục nữ) để đối kháng lại hormone sinh dục nam.
Trong trường hợp bị trứng cá nặng mà các thuốc dùng nêu trên không hiệu quả, bác sĩ có thể cho dùng thuốc isotretinoin. Isotreinoin được tìm ra vào năm 1982, là một hóa chất tổng hợp rất giống vitamin A. Isotretinoin có tên biệt dược nổi tiếng trước đây là Roaccutane, được dùng thay thế cho vitamin A để trị mụn trứng cá loại nặng (severe cystic acne vulgaris). Từ năm 1930, vitaminA được dùng trị mụn trứng cá loại nặng này với liều rất cao 500.000 UI/ngày và người ta thấy tiện lợi hơn nếu thay vitamin A dùng isotretinoin. Cơ chế trị mụn của isotretinoin vẫn chưa biết rõ hoàn toàn, chỉ dựa vào giả thuyết là chất này làm giảm tiết bã nhờn do gây chết (apoptosis) các tuyến bã nhờn và diệt Propionibacterium acnes (vi khuẩn gây mụn).
 Isotretinoin là thuốc dùng sai rất nguy hiểm vì có nhiều tác dụng phụ có hại, đặc biệt, có thể gây quái thai cho người nữ dùng nó mà lại có thai. Theo bảng phân loại thuốc dùng cho phụ nữ có thai của FDA Mỹ, isotretioin được phân vào bảng X tức tuyệt đối không dùng cho phụ nữ có thai. Bởi vì isotretinoin đã được chứng minh là gây quái thai, làm cho thai nhi bất toàn về thị giác và thính giác (trẻ sinh ra không có vành tai), dị dạng mặt, chậm phát triển tâm thần. Vì chắn chắn gây quái thai nên khi bác sĩ quyết định dùng isotretinoin trị mụn cho người nữ trong tuổi còn sinh nở, bắt buộc phải có bản thỏa thuận điều trị và có chữ ký của người được điều trị. Trong đó, người được điều trị cam kết là đã biết rõ là thuốc có thể gây quái thai. Thậm chí ở các nước phương Tây, bác sĩphải cho thuốc tránh thai kèm theo thuốc isotretinoin để bảo đảm người nữ dùng thuốc không có thai trong suốt thời gian dùng thuốc trị mụn. Người nữ đang dùng thuốc isotretinoin nếu muốn có thai, phải ngưng dùng isotretinoin một tháng trước rồi mới tính chuyện có thai (vì thuốc tích lũy trong cơ thể dài ngày có thể gây hại). Ở Mỹ, có sựphối hợp giữa bác sĩvà dược sĩkhi cho phụ nữ dùng thuốc isotretinoin, bác sĩ phải thuộc chuyên khoa da liễu khi kê đơn cho phụ nữisotretinoin phải ghi trong website của vịđó, dược sĩkiểm trawebsite thấy tuân thủ các quy định mới bán thuốc. Hiện nay, ở bệnh viện Da liễu TPHCM tuân thủ rất chặt chẽ các điều vừa kể khi cho người bệnh dùng isotretinoin. Bác sĩ thực hiện nghiêm việc kê đơn, trước khi kê đơn phải đưa biên bản thỏa thuận điều trị, phải tránh thai, phải hiểu biết về tác dụng phụ có hại của thuốc cho người bệnh ký. Một nghiên cứu thực hiện tại khoa Dược, Đại học Y Dược TPHCM, cho thấy nhiều nữ công nhân trẻ ở Khu Công nghiệp Biên Hòa đã tự ý mua dùng isotretinoin để trị mụn (ở Khu Công nghiệp rất dễ bị mụn do hóa chất) mà lại hoàn toàn không biết là thuốc có thể gây quái thai. Ngoài tác dụng gây quái thai, isotretinoin còn gây các tác dụng có hại khác. Isotretinoin có thể gây: khô da, khô môi, khô miệng, khô mắt (nhiều khi bác sĩ phải kê thêm thuốc là nước mắt nhân tạo để trị khô mắt do người bệnh dùng isotretinoin), viêm kết mạc, nhức đầu, đau cơ, đau khớp... Isotretinoin có thể gây tác dụng có hại thuộcloại hiếm là làm viêm gan, viêm tụy, và đặc biệt gây loạn thần, trầm cảm (có ý muốn tự tử).
Trở lại trường hợp tự tử vì dùng thuốc isotretinoin ở Pháp được nêu ở trên, qua lời kể của mẹ nạn nhân, trong vòng 6 tháng, con trai bà làJordan, 22 tuổi, được điều trị bằng thuốc Curacné, thuốc generic củaisotretinoin ở Pháp (vào năm 2008, biệt dược đầu tiên của isotretinoin là Roaccutane không còn sản xuất nữa mà chỉ có thuốc generic, như ở Việt Nam có Acnotin, Isotina chính là isotretinoin). Sau thời gian uống thuốc, Jordan bỗng thay đổi thái độ và hành vi: đêm không ngủ, tự nhốt mình trong phòng, chịu đựng nhiều cơn đau dữ dội ở lưng và bị khô miệng (đúng là bị tác dụng phụ, trong đó nguy hiểm là bị trầm cảm). Sau đó, chàng sinh viên trẻ tự kết liễu đời mình bằng cách treo cổ và chết ngay trong phòng.
Như vậy nên lưu ý có thuốc trị mụn có thể gây tác hại rất nghiêm trọng. Để tránh hậu quả đáng tiếc do dùng sai thuốc trị mụn, nếu bị mụn nhiều các bạn nên đến bác sĩ để được hướng dẫn chữa trị là tốt nhất.