TÁC DỤNG CỦA THUỐC CHỐNG LAO

0 Bình luận

Trước khi nạn dịch nhiễm HIV/AIDS xảy ra, người ta thấy như có vẻ khống chế được bệnh lao, nhưng khi nạn dịch thuộc loại khủng hoảng toàn thế giới diễn biến, bệnh lao ngày càng phát triển. Hằng năm, tỷ lệ mắc bệnh lao ngày càng tăng lên, không chỉ ở các nước phát triển, mà còn ở các nước tiên tiến.
Trong sử dụng thuốc kháng lao, vấn đề được quan tâm nhất vẫn là sử dụng thuốc sao cho thậthiệu quả, an toàn và ngăn chặn sự KHÁNG THUỐC. Sự đề kháng thuốc ở vi khuẩn lao rất mạnh mẽ cho nên trong điều trị, không bao giờ dùng một thuốc mà phải luôn luôn kết hợp dùng từ hai ba thuốc trở lên. Và hiện nay các nhà điều trị luôn luôn đề cập tới hiện tượng vi khuẩn lao đa kháng thuốc (multiple drug resistance) tức là vi khuẩn lao có thể đề kháng với nhiều thuốc cùng một lúc.
Riêng người bệnh cần ý thức bệnh lao là bệnh lây mạn tính, khi sử dụng thuốc kháng lao cần tuân thủ phác đồ điều trị theo 3 chữ Đ: ĐÚNG, ĐỦ, ĐỀU.
- Thuốc phải được dùng ĐÚNG: tức là phải dùng đúng các tên thuốc đã được chỉ định trong toa theo phác đồ. Không được bỏ bớt thuốc, thêm thuốc hoặc thay đổi thuốc một cách tùy tiện.
- Thuốc phải dùng ĐỦ liều vàĐỦ thời gian:vì thuốc kháng lao đều độc nên phải dùng đủ liều hàng ngày. Nếu quá liều sẽ bị độc tính của thuốc, còn bớt liều thì thuốc không có hiệu quả và làm cho vi khuẩn kháng thuốc. Phải dùng thuốc đủ thời gian mà bác sĩđiều trị quy định (tùy theo loạiphác đồ, có khi 6 tháng, có khi 9 tháng...) không được ngưng sớm vì bệnh sẽ không lành, dễ tái phát mà khi tái phát sẽ nặng hơn.
- Thuốc phải dùng ĐỀU đặn: thuốc kháng lao thường dùng một lần duy nhất trong ngày, các thuốc sẽ uống cùng lúc (uống vào lúc sáng trước khi ăn sáng) trong thời gian dài, ngày nào cũng thế. Người bệnh cần cố gắng tuân theo, không nên tự ý chia thuốc ra nhiều lần để uống, cũng không được quên uống thuốc để rồi khi nhớ lại uống bù (uống như thế có thể quá liều).
Thuốc chống lao là nhóm thuốc chuyên dùng trị vi khuẩn lao và có khá nhiều tác dụng phụ gây hại. Thuốc chống lao được chia thành 2 nhóm dựa trên tác dụng và mức độ độc tính. Những thuốc ban đầu (nhóm hạng 1), theo thứ tự thời gian cấp phép, gồm: streptomycin (1944), isoniazid (INH, 1952), pyrazinamid (PZA, 1955), ethambutol (1967) và rifampicin (1971). Các thuốc hàng thứ hai (hạng 2) được dùng trong trường hợp kháng thuốc hoặc bệnh nhân không dung nạp các thuốc hạng 1, bao gồm: acid aminosalicylic (PSA, 1949), cycloserin (1956), kanamycin (1958), capreomycin (1971) và amikacin (1976).
Tác dụng phụ của thuốc chống lao gồm những gì?
Các phác đồ điều trị lao thường kéo dài, do vậy bệnh nhân thường lo lắng bị tác dụng phụ gây hại khi dùng thuốc chống lao kéo dài. Có 2 loại tác dụng phụ: nhẹ và nặng.
 Những tác dụng phụ nhẹ thường gặp là:
 - Bần thần, cảm giác này có thể kéo dài khoảng 30 phút đến 1-2 giờ, thường chỉ xảy ra trong 5-7 ngày đầu mới điều trị, sau đó người bệnh sẽ không còn cảm giác này.
 -Nướctiểucó màu đỏ, làmàucủathuốcrifampicin, khingưng thuốc nước tiểusẽ có màu như cũ. Đây cũng là dấu hiệu giúp bác sĩ nhận biết bệnh nhân có dùng thuốc này hay không. - Sạm da, thường là do thuốc pyrazinamid, để giảm bớt tác dụng phụ này không nên đi ra ngoài trời nắng, nếu phải đi thì mặc áo dài tay, mang khẩu trang, đội nón... để hạn chế phần da tiếp xúc ánh sáng. Khi ngưng uống PZA thì triệu chứng trên cũng dần biến mất.
- Tê rần ở môi sau khi tiêm thuốc streptomycin, cũng là triệu chứng thoáng qua không cần điều trị.
 - Tê rần, nóng rát ở tay chân do viêm thần kinh ngoại biên, là do isoniazid, dùng kèm vitamin B6 (pyridoxine) liều thấp 15mg-50mg mỗi ngày để khắc phục tình trạng này.
 - Đau hoặc thấy khó chịu ở vùng thượng vị, gây buồn nôn, chỉ cần dùng thuốc kháng acid chữa triệu chứng hoặc thay vì uống thuốc lúc bụng đói có thể ăn nhẹ như cháo, xúp, uống sữa... trước khi uống thuốc.
Những tác dụng phụ nghiêm trọng hơn:
 - Dị ứng thuốc có thể xảy ra với bất cứ thuốc chống lao nào, nhưng dễ gặp: streptomycin, INH, rifampicin. Có những biểu hiện như: sốt, nổi mẩn đỏ, luôn kèm theo ngứa, đôi khi có nổi hạch, lách lớn, gan lớn, có thể có vàng da hoặc không. Khi xảy ra hiện tượng này cần ngưng ngay các thuốc trị lao.
Độc ởgan làm tăng men gan, viêm gan, tổn thươnggan. Đây là tác dụng phụ thường gặp nhất, các thuốc gây viêm gan thường gặp bao gồm: pyrazinamid, isoniazid, rifampicin. Độcởthận và taigâysuy thận, tổn thương tiền đình: đây là tác dụng phụ của Streptomycin và các thuốc nhóm aminosid. Tổn thương ở mắt như: mù màu (thường không nhận biết được màu đỏ và màu xanh), nhìn mờ, viêm thần kinh thịgiác (ethambutol). Rối loạn về máu như mất bạch cầu hạt, giảm tiểu cầu, thiếu máu tán huyết (rifampicin, INH). Tăngaciduric máu, có thể gâysưng đaukhớp, đặcbiệtởnhững người đã có bệnh gút trước đây (pyrazinamid, etambutol).
Biện pháp đề phòng tác dụng phụ có hại do thuốc chống lao
Trước khi điều trị: cần khai thác kỹ tiền sử của bệnh nhân và làm xét nghiệm khảo sát chức năng gan, thận, đếm tiểu cầu.
Trong khi điều trị:
-Dùng thuốc đúng liều và phù hợp với cơ địa của người bệnh.
–Lưuý bệnh nhân những tác dụngphụ có thểxảy ra vàyêu cầu báo ngay cho bác sĩ khi có triệu chứng bất thường xuất hiện.
-Làm xét nghiệm định kỳ, đặc biệt là men gan để xem có rối loạn về gan.
-Trong thời gian dùng thuốc điều trị lao, người bệnh không được uống rượu, bia và hạn chế hoặc tránh sử dụng thêm các thuốc có hại cho gan và thận, vì hầu hết các thuốc trị lao đều độc cho gan và được thải qua thận.

Anonymous

Some say he’s half man half fish, others say he’s more of a seventy/thirty split. Either way he’s a fishy bastard.

0 comments: