DÙNG THUỐC TRỊ RỐI LOẠN TRẦM CẢM
Trầm cảm là một loại rối loạn sức khỏe tâm thần và hiện nay ảnh hưởng đến khá nhiều người do cuộc sống có nhiều biến đổi không có lợi. Có khoảng 10-15% người lớn được ghi nhận là có thể có ít nhất một cơn trầm cảm trong cuộc sống của mình. Rối loạn trầm cảm thường gặp nhiều ở nữ hơn (gấp 2 lần) so với nam. Đây là rối loạn mà người bệnh thường tưởng là không việc gì (ngay đối với giới chuyên môn, trầm cảm cũng thường được nhận lầm là bị hội chứng mệt mỏi kinh niên), người bệnh âm thầm chịu đựng hoặc tìm cách tự chữa theo lời mách bảo để rồi có thể đi đến kết thúc rất đáng tiếc là tự vẫn. Triệu chứng trầm cảm rất đa dạng. Khoảng 90% người bệnh cảm thấy buồn chán, không thấy hứng thú với mọi việc, không tha thiết với các hoạt động trước đây được xem vui thích; ăn mất ngon và có thể kèm theo sụt cân; rối loạn giấc ngủ đưa đến mất ngủ (có bệnh nhân lại than phiền là ngủ nhiều); rối loạn tâm thần vận động như chậm chạp, trì trệ hoặc ngược lại là hay đi tới đi lui, không ngồi yên một chỗ; mặc cảm tự ti như đánh giá thấp bản thân, khuếch đại lỗi lầm nhỏ của mình; ám ảnh bởi ý tưởng muốn kết thúc cuộc đời mình...Nếu nghi ngờ bị rối loạn trầm cảm, người bệnh rất cần đi khám bệnh ở bác sĩ chuyên khoa tâm thần kinh để được chẩn đoán xác định và chỉ định đúng thuốc điều trị. Nếu được bác sĩ chẩn đoán đúng bệnh và người bệnh được dùng đúng thuốc được gọi là thuốc chống trầm cảm thì có thể kiểm soát, cải thiện, thậm chí chữa khỏi hẳn bệnh. Người bệnh rất cần được bác sĩ chuyên khoa chữa trị bởi vì người bệnh không thể tự chẩn đoán là mình bị rối loạn trầm cảm hay không và nếu đã mắc thì dùng thuốc gì đúng nhất để chữa trị (nên lưu ý có nhiều thuốc trị rối loạn trầm cảm phải được bác sĩ ghi đơn thuốc thì mới mua được thuốc). Người bệnh không thể tự mình biết được mà phải được bác sĩ chẩn đoán là đúng bị trầm cảm hay do bệnh khác (như bệnh tâm thần phân liệt hay bị rối loạn lo âu, rối loạn lưỡng cực, thậm chí dùng nhiều loại thuốc cũng bị rối loạn trầm cảm gọi là bị tác dụng phụ của thuốc gây trầm cảm v.v...).
Thông thường, nếu bị rối loạn trầm cảm thật sự sẽ được bác sĩ cho dùng thuốc chống trầm cảm, gồm chủ yếu 3 loại: thuốc chống trầm cảm 3 vòng, thuốc nhóm IMAO và thuốc mới gọi là thuốc ức chếchọn lọc tái hấp thu serotonin viết tắt SSRIvà cho dùng thuốc đúng cách, đúng liều lượng. Các thuốc đang dùnghiện nay có thể kể như sau:
1. Nhóm thuốc ức chế MA0ls (Monoamine 0xidase Inhibitors, viết tắt MA0ls).
Chỉ hai thuốc còn được dùng: phenelzin (Nardil), tranylcypromin (Parnate).
Chỉ định: Ngoài trị rối loạn trầm cảm nặng (thường dùng khi các thuốc khác như TCA, SSRI không đáp ứng), còn trị hội chứng Parkinson, rối loạn ăn uống.
Đây là nhóm thuốc ít được dùng bởi vì:
- Dễ gây tương tác với thức ăn chứa tyramin như phô mai, bia, rượu vang... gây cơn tăng huyết áp nguy hiểm. Cũng thường gây tương tác thuốc với nhiều loại thuốc khác.
- Thuốc dễ gây tác dụng phụ như: suy nhược, kích động tâm thần, run, khô miệng, rối loạn hoạt động tình dục, gây hạ huyết áp tư thế đứng,...
2. Nhóm thuốc chống trầm cảm 3 vòng
(TriCyclic Antidepressants - TCA), gồm có: amitriptyline (Elavil), clomipramine (Anafranil), desipramine (Norpramin), doxepin (Sinequan), imipramine (Tofranil), trimipramine (Surmontil). Chỉ định: ngoài trị trầm cảm, còn trị đái dầm ở trẻ, đau kinh niên,... Thuốc có thể gây các tác dụng phụ như: làm lú lẫn, chóng mặt, gây hạ huyết áp nhưng có khi lại tăng huyết áp, loạn nhịp tim, mệt mỏi, nhức đầu,v.v...
3. Nhóm thuốc ức chế chọn lọc tái thu hồi serotonin
(Selective Serotonin Reuptake Inhibitor - SSRI), gồm các thuốc: citalopram (Celexa), escitalopram (Lexapro), fluoxetine (Prozac), fluvoxamine (Luvox), paroxetine (Paxil), sertraline (Zoloft) Chỉ định: ngoàitrịrốiloạntrầm cảm còntrịbéophì(fluoxetine), rối loạn tiền kinh nguyệt (premenstrual dysphoric disorder, dùng paroxetine, sertraline...), xuất tinh sớm (paroxetine, citalopram), nhức đầu kinh niên (paroxetine).
Do ức chế chọn lọc tái thu hồi chất dẫn truyền thần kinh serotonin (không tác động đến các chất dẫn truyền thần kinh khác) nên tác dụng phụ gây độc trên hệ thần kinh thực vật được xem là thấp nhất so với các nhóm thuốc khác. Đây là thuốc hiện được dùng nhiều (cùng với thuốc TCA) ở nước ta.
Thuốc có thể gây các tác dụng phụ như: kích thích làm mất ngủ, nhức đầu, khô miệng, táo bón, đau cơ, mệt mỏi, suy nhược...
Ngoài 3 nhóm thuốc dùng nhiều ở trên còn có nhóm gọi là Thuốc chống trầm cảm hợp chất dị vòng hay Thuốc chống trầm cảm không điển hình (atypicalantidepressants), xuấthiện từ 1980 đến 1996, gồm các thuốc: amoxapine, maprotiline, trazodone, bupropion, venlafaxine, mirtazapine, nefazodone....
Khi được chỉ định dùng thuốc chống trầm cảm, nên lưu ý mấy điều sau:
- Xin được nhấn mạnh, người bệnh không nên tự tìm cách chữa bệnh mà nên đến khám ở bác sĩ chuyên khoa để được chữa trị đúng cách. Tùy theo tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ chọn thuốc thích hợp, chọn đúng liều dùng.
- Thời gian dùng thuốc sẽ tùy vào tình trạng bệnh mà dùng trong một thời gian hoặc phải kéo dài, thậm chí dùng rất lâu dài bởi vì ngưng thuốc có thể tái phát và bệnh nặng hơn.
- Thuốc thuộc 3 nhóm thuốc kể trên thuộc loại không gây nghiện. Tuy nhiên nếu bác sĩ dùng nhiều thuốc gọi là phối hợp thuốc có thể dùng thêm thuốc gây nghiện không thuộc nhóm 3 nhóm thuốc chống trầm cảm kết hợp với thuốc chống trầm cảm, người bệnh vẫn không phải lo lắng bởi vì bác sĩsẽ cho dùng thuốc đúng cách để không nghiện.
- Người bệnh tuyệt đối không dùng thêm bất cứ thuốc nào ngoài thuốc đã được bác sĩ chỉ định kê đơn. Có trường hợp hoặc người bệnh tự ý dùng thêm thuốc chống trầm cảm loại khác (vì nghe đồn thuốc hay) có thể gặp nguy hiểm (vì vấn đề tương tác thuốc, như đang dùng thuốc SSRI tuyệt đối không được dùng thêm thuốc MAOIs), hoặc người bệnh tự ý dùng thuốc có tác dụng gọi là giải ức chế (như dùng thuốc an thần giải lo như diazepam để trị mất ngủ do trầm cảm là nguy hiểm) khi đó sự kềm chế ý tưởng tự sát mất đi đưa đến người bệnh không còn bị ức chế nữa và tìm cách tự tử.
.png)
0 comments: