Biết thuốc để “trăm trận trăm thắng”

0 Bình luận

Có 2 loại thuốc hiện nay được bán tại các nhà thuốc. Đó là thuốc bán phải có đơn thuốc của bác sĩ gọi là thuốc kê đơn (hay thuốc kê toa vì có ngườigọi “toa” thay vì “đơn”) và thuốc bán không cần đơn thuốc gọi là thuốc không kê đơn. Thuốc kê đơn là thuốc được mua theo đơn thuốc của bác sĩsau khi khám cho bệnh nhân. Người dùng thuốc có thể tham khảo thêm thông tin và những ý kiến dặn dò từ bác sĩ. Loại thuốc này nếu không dùng đúng theo chỉ định của bác sĩkê trong đơn thuốc có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người dùng thuốc. Còn thuốc không kê đơn, còn gọi là thuốc OTC (viết tắt của Over The Counter, có nghĩa thuốc bán ở quầy không cần đơn thuốc) là thuốc có độc tính thấp, không có những tác dụng phụ có hại nghiêm trọng. Thuốc OTC cũng là thuốc dùng trong điều trị các bệnh thông thường như cảm sốt, ho, đau nhức nhẹ, tiêu chảy, táo bón, khó tiêu, hay thuốc bổ là vitamin, chất khoáng, v.v... và người bệnh có thể tự điều trị, không nhất thiết có sự thăm khám, chỉ định thuốc hoặc theo dõi của bác sĩ.
Tuy nhiên, khi nghe nói đến “thuốc không kê đơn”, người dùng thuốc thường hiểu lầm là thuốc loại này là thuốc dùng sao cũng được. Vì vậy, có người cứ mua các loại thuốc hoặc chế phẩm như thuốc bổ sung vitamin, chất khoáng, các acidamin, các loạimenvi sinh, men tiêu hóa, chất bổ dưỡng như nhân sâm v.v... dùng bừa bãi, dùng bất kể liều lượng. Đúng là các loại thuốc ấy mua không cần đơn (menvisinh, nhânsâm được kể là “thực phẩm chức năng” không phải là thuốc cũng thuộc loại mua không cần đơn), nhưng người dùng thuốc phải có sự hiểu biết nhất định về các thuốc không kê đơn để sử dụng đúng nhằm đạt hiệu quả và an toàn.
Đơn cử là thuốc giảm đau hạ nhiệt paracetamol. Thuốc này có loại không chỉ có paracetamolkhông thôi mà còn có paracetamol phối hợp với các thuốc khác, đặc biệt có cả paracetamolphối hợp với thuốc gây nghiện là codein. Trước đây, thuốc paracetamol phối hợp với codein thuộc loại kê đơn bởi vì liên quan đến tính chất gây nghiện và không an toàn nếu dùng sai (nếu dùng tùy tiện dài ngày sẽ đưa đến nghiện như nghiện ma túy). Nay, thuốc phối hợp này thuộc loại không kê đơn nhưng được chú thích: “dạng thuốc chia liều không được chứa quá 30mg codein/đơn vị dạng thuốc”và đặc biệt, “thành phẩm chứa paracetamol và codein được bán không cần đơn với số lượng tối đa cho 10 ngày sử dụng”. Như vậy, trong danh mục thuốc không kê đơn vẫn có thuốc có “những điều kiện bắt buộc có sự tuân thủ của ngườiphân phối vàngườisử dụng thuốc” chứ không phải sử dụng dễ dàng vô điều kiện.
Vì sao hiện nay trong danh mục có thuốc loại đặc biệt này? Bởi vìthuốcparacetamol+codeincần được muadễ dànghơn nhằm để đáp ứng thuận lợiviệc chăm sóc điều trị đau theo phác đồ “3 bước thang giảm đau” của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Theo phác đồ giảm đau của WHO, khi mới đau tức đau nhẹ chỉ dùng thuốc giảm đau thông thường là paracetamol, đau mức cao hơn là đau trung bình nên dùng thuốc kết hợp như paracetamol+codein, còn đau nặng như đau ung thư phải dùng thuốc gây nghiện mạnh như morphin. Hiện nay ở ta, bệnh nhân đau loại trung bình cũng khá nhiều nên thuốc paracetamol+codein được xếp vào loại không kê đơn để người bệnh dễ tiếp cận với thuốc điều trị hiệu quả là điều hợp lý. Xin nhắc lại, thuốc paracetamol+codein phải tuân thủ điều kiện là chỉ được mua dùng trong 10 ngày, nếu người bệnh không giảm đau phải đi khám bác sĩ để chỉ định thuốc dùng tiếp tục, chứ không nên dùng dài ngày lâu hơn paracetamol+codein mà bị nghiện. Người dùng thuốc paracetamol ít nhất phải biết thông tin về liều dùng củaparacetamolnhư sau: “Liều thông thường hạ sốt cho trẻ là 10mg/kg cân nặng, ngày uống 3-4 lần, và liều tối đa cho trẻ là không quá 60mg/kg/ngày. Còn đối với người lớn, mỗi lần uống 500mg, ngày uống3-4 lần, không nên quá 4gram trong ngày. Riêng đối với người cao tuổi nên dùng liều thấp hơn do chức năng gan kém”. Chính vì dùng bất kể liều lượng mà trong thời gian qua, đã có nhiều trường hợp ngộ độc paracetamol, đa số là trẻ con. Để có thông tin và sựhiểu biếtnhất định về thuốc không kê đơn, người dùng thuốc có thể hỏi dược sĩ tại nhà thuốc (nước ta đang hướng đến các nhà thuốc phải đạt chuẩn Thực hành Nhà thuốc Tốt-GPP chính là để đạt đến dược sĩ tư vấn dùng thuốc trong mọi trường hợp). Trong tình hình hiện nay, cách tốt nhất để có thông tin về thuốc, đặc biệt thuốc không kê đơn, là xem tờ hướng dẫn dùng thuốc (nếu mua thuốc viên rời không mua nguyên lọ thuốc, ta vẫn có quyền đòi hỏi nhà thuốc cho xem tờ này). Có câu nói từ xưa nhấn mạnh vai trò thông tin là “Biết người biết ta trăm trận trăm thắng”, có thể vận dụng vào lĩnh vực y dược để cho rằng “Biết thuốc biết ta trăm trận trăm thắng” trong cuộc chiến chống lại bệnh tật. Biết thuốc ở đây tức là hiểu biết về thuốc thông qua tờ hướng dẫn dùng thuốc, nếu được như vậy mới đánh đâu thắng đấy tức chữa được bệnh. Và cũng vì tầm quan trọng của sự hiểu biết về thuốc thông qua đọc thông tin mà bất cứ giới thiệu thuốc nào trên phương tiện truyền thanh, truyền hình cũng phải có câu nóikết thúc “Đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng!” Tờ hướng dẫn của các thuốc mới đưa ra thị trường thường ghi đầy đủ các đề mục, dài và nhiều chữ. Một số ghi đơn giản và vắn tắt hơn. Ta nên đọc kỹ các phần sau:

Thành phần

Ghi tên hoạt chất hay còn gọi là dược chất và các tá dược. Thí dụ thuốc có biệt dược là Zentel hoặc Albendazol trong thành phần ghi dược chất chính là albendazol là thuốc trị giun sán và thêm khá nhiều tá dược để tạo thành thuốc viên nén. Cần biết tên dược chất vì đây chính là tên thuốc dùng cho việc điều trị. Đã có nhiều trường hợp bà mẹ cho con uống nhiều thuốc tưởng là khác nhau nhưng chỉ chứa một dược chất hạ sốt là paracetamol đưa đến trẻ bị ngộ độc thuốc rất đáng tiếc.

Chỉ định

Là phần ghi những trường hợp dùng thuốc. Có thể ghi trường hợp bệnh (chỉ định điều trị cơn cao huyết áp) hoặc ghi trị tác nhân bệnh (chỉ định trị giun đũa, giun kim, giun móc) hoặc dùng để dự phòng (chỉ định dự phòng cơn đau thắt ngực). Cần đọc phần này để xem thuốc sẽ dùng có phù hợp với bệnh đang được điều trị hay không.
Cách dùng - liều dùng
Ghi cách dùng thuốc như thế nào như ngậm dưới lưỡi, uống hoặc tiêm bắp, tĩnh mạch...còn liều dùng được ghi: liều dùng cho một lần, liều trong 24 giờ (tức trong một ngày), liều cho một đợt điều trị. Thí dụ: thuốc được ghi:500mgx3 lần/ngày, trong 10 ngày, có nghĩa là mỗi lần dùng 500mg thuốc (thường là uống 1 viên chứa 500mg hoạt chất), dùng 3 lần trong ngày, dùng trong 10 ngày liên tiếp.

Chống chỉ định

Là phần ghi những trường hợp không được dùng thuốc. Thường ghi một số đối tượng như phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, trẻ con dưới 15 tuổi, người bị suy gan, suy thận, người bị mẫn cảm dị ứng với bất cứ chất nào trong thành phần của thuốc... hoặc trường hợp nhược cơ, hôn mê gan, loét dạ dày tiến triển...
Nếu trong phần này chỉ ghi chống chỉ định phải hiểu là chống chỉ định tuyệt đối, tức là không vì lý do nào đó, trường hợp chống chỉ định lại linh động được dùng thuốc. Thí dụ: thuốc được ghi chống chỉ định đối với trẻ dưới 15 tuổi, ta phải tuyệt đối theo đúng điều này, đừng vì thấy trẻ 13-14 tuổi lớn con có vẻ già dặn ta lại cho dùng.

Lưu ý thận trọng

Là thành phần ghi những điều cần lưu ý, thí dụ có thuốc ghi trong thời gian dùng thuốc phải theo dõi chức năng gan, hoặc thuốc không được tiêm bắp mà phải tiêm tĩnh mạch chậm... Phần “lưu ý-thận trọng” có thể được xem là “chống chỉ định tương đối”. Có nghĩa là vì thận trọng có những trường hợp không được dùng thuốc nhưng không cấm hoàn toàn. Thí dụ: thuốc được ghi: “người lái xe hay vận hành máy móc cần thận trọng khi sử dụng thuốc do thuốc có thể gây buồn ngủ ngầy ngật” ta nên hiểu người lái xe hay vận hành máy móc nên tránh dùng thuốc, còn không làm việc vẫn có thể dùng, hoặc thuốc được ghi: “thận trọng khi chỉ định cho trẻ dưới 2 tuổi”, có nghĩa là tốt nhất nên tránh dùng cho trẻ dưới2 tuổi, nhưng nếu cần thiết, bác sĩvẫn có thể chỉ định thuốc cho trẻ và theo dõi kỹ.
Tác dụng phụ (hoặc tác dụng ngoại ý) Là phần ghi những tác dụng xảy ra ngoài ý muốn, không dùng trong điều trị. Thí dụ, một số thuốc dùng trong bệnh lý tim mạch uống vào là gây ho khan. Hoặc có thuốc làm cho phân có màu đen, làm nước tiểu có màu vàng, màu xanh, đỏ... Một số tác dụng phụ của thuốc thường hay gặp: đau bụng vùng thượng vị, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, nhức đầu, chóng mặt... Thường các tác dụng phụ này sẽ mất đi khi ngưng dùng thuốc.
Tương tác thuốc Là phần ghi thuốc nếu dùng cùng lúc với một số thuốc khác sẽ bị các phản ứng bất lợi. Thí dụ, thuốc aspirin nếu dùng chung với các thuốc giảm đau chống viêm giống như tác dụng của nó (được gọi là các thuốc chống viêm không steroid) sẽ đưa đến tương tác thuốc làm tổn hại niêm mạc dạ dày (hại bao tử) hơn, hay aspirin nếu dùng chung với thuốc chống đông máu như coumarin sẽ gây xuất huyết. Trong tờ hướng dẫn không ghi hạn dùng. Tuy nhiên người sử dụng thuốc cần xem kỹ hạn dùng được ghi trên bao bì (nhãn thuốc, vỉ thuốc hoặc hộp giấy đựng lọ thuốc). Hạn dùng được định nghĩa là “khoảng thời gian sử dụng được ấn định cho một lô thuốc (thuốc được sản xuất theo lô) mà sau thời hạn này thuốc đó không còn giá trị sử dụng”. Như vậy, nếu đọc trên nhãn thuốc hoặc bao bì: HD (hoặc Exp. Date):30 tháng 6 năm 2014, có nghĩa là trong suốt thời gian từ lúc thuốc xuất xưởng đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2014 thuốc có giá trị sử dụng, đến ngày 1.7.2014 thuốc quá hạn sử dụng. Nếu thuốc quá hạn dùng, phải bỏ đi, không được Sử dụng. Câu “Biết thuốc biết ta trăm trận trăm thắng” được dùng ở đây thật ra để chỉ kiến thức, kỹ năng chuyên môn cần có của bác sĩ, dược sĩ trong sử dụng thuốc chữa bệnh là chính. Còn sự hiểu biết về thuốc của người dùng thuốc cần phải có chỉ ở mức độ tối thiểu cơ bản giúp người đó không dùng thuốc sai. Vì vậy, xin đặc biệt lưu ý, người dùng thuốc không nên có ảo tưởng “đọc xong bản hướng dẫn là hiểu biết hết về thuốc” và rồi tự ý chẩn đoán bệnh, tự chữa bệnh bằng thuốc. Tự chẩn đoán để tự chữa bệnh bằng thuốc là cách dễ nhất chuốc họa vào thân.

Anonymous

Some say he’s half man half fish, others say he’s more of a seventy/thirty split. Either way he’s a fishy bastard.

0 comments: