TRỢ TỬ : VẤN ĐỀ CỦA TỪ BI VÀ TRÍ TUỆ
Ai không đau lòng khi chứng kiến người bệnh ở giai đoạn cuối cùng của việc điều trị bệnh nan y, đau đớn cùng cực chỉ mong được chết. Hoặc nhìn thấy người bệnh ở trong tình trạng “vô phương cứu chữa”, sống đời sống thực vật mấy năm trời, đại tiện tiểu tiện tại chỗ, sống nhờ hoàn toàn vào máy trợ hô hấp, tuần hoàn, vào dinh dưỡng nhân tạo, họ không biết gì về việc gây nỗi khổ không thể tả cho người thân và sự ray rứt cho bác sĩ điều trị. Người không thuộc giới chuyên môn khi chứng kiến như thế dù còn gợn suy nghĩ này nọ vẫn thầm mong “hãy chết đi cho đỡ khổ!". Còn thầy thuốc trực tiếp chăm sóc, luôn ràng buộc bởi y đức, cũng có lúc than thầm: “ước gì có đủ pháp lý để có thể thực hiện cái chết êm ả!”. Đừng tưởng sự quan tâm muốn giúp bệnh nhân “không thể cứu chữa” chết điêmảchỉxảy ra trong suy nghĩ. Ở nước ngoài, từ lâu đã có một số bác sĩ tham gia “trợ tử trực tiếp” sau đó chấp nhận trách nhiệm, thách đốpháp luậtbằng cách mỉm cười đưa tay vào còng của cảnh sát. Còn ở nước ta, có xảy ra một tình trạng có thể gọi là “trợ tử gián tiếp” ai nghe cũng cảm thấy bất nhẫn. Đó là có một số bệnh viện cho ra viện sớm các bệnh nhân “gần đấtxa trời” để họ không còn được giúp đỡ về mặt y tế và nhắm mắt xuôi tay tại nhà. Không vì theo yêu cầu của người thân bệnh nhân (hoặc có yêu cầu nhưng do sự động viên áp đặt của thầy thuốc) mà chỉ vì bệnh viện đã có chỉ tiêu thi đua về tỷ lệ tử vong tại bệnh viện, tỷ lệ tử vong cao sẽ mất thi đua. Người bệnh đang thập tửnhất sinh về nhà không có điều kiệnhỗ trợ chắc chắn sẽ chết thôi, đó là không là “trợ tử gián tiếp” thì là gì? Nhưng gần như chẳng có mấy ai gọi tình trạng vừa kể là “trợ tử”.Trợ tử là gì?
Trợ tử là thuật ngữ tạm dịch từ tiếng Anh “euthanasia”, bắt nguồn từ một từ Hy Lạp là “euthanatos”, trong đó eu là tốt, bình thường và thanatos là chết. Trợ tử có thể hiểu là gây nên cái chết nhẹ nhàng nhằm giúp cho bệnh nhân không còn đau khổ do mắc một bệnh nan trị. Trợ tử được chia làm 2 loại: Trợ tử tự nguyện (voluntary euthanasia): gây chếtkhi có sựyêu cầu cần được chết của người bệnh. Tức người bệnh còn đủ nhận thức để tự nguyện đón nhận trợ tử. Trong trợ tử tự nguyện, thầy thuốc kết thúc sự sống một cách chủ động (active euthanasia) bằng cách tiêm chất độc. Hoặc gây chết thụ động (passive euthanasia) bằng cách ngưng điều trị, ngừng cung cấp chất dinh dưỡng, hoặc không làm những gì cần thiết để duy trì cuộc sống.
Trợ tử không tự nguyện (non- voluntary euthanasia): gây chết khi không có sự yêu cầu của người bệnh vì người bệnh mất khả năng giao tiếp, không thể quyết định về cái chết của mình (nhưng vẫn có sự tin rằng người đó muốn được chết nếu có thể ra quyết định).
Hai luồng dư luận về trợ tử
Về việc hợp pháp hóa, hiện nay trên thế giới chỉ có 3 nước cho phép thực hiện trợ tử tự nguyện. Đó là Hà Lan (ban hành luật trợ tử năm 2001), Bỉ (ban hành 2002), Luxembourg (ban hành 2008). Riêng nước Mỹ, chỉ có tiểu bang Oregon không hợp pháp hóa trợ tử nhưng cho phép trợ giúp tự tử (assisted suicide), tức người bệnh tự dùng thuốc độc do bác sĩ cung cấp.
Tuy nhiên, trên thế giới, hiện vẫn có 2 luồng dư luận phản đối vàủng hộ trợtử diễn rarất mạnh mẽ, nhất là ở các nước phát triển.
Về phía phản đối trợ tử, những người này cho rằng hợp pháp trợ tử có thể đưa đến sự lạm dụng như: trợ tử không tùy ý bệnh nhân mà tùy ý bác sĩ, bác sĩ chẩn đoán nhầm để đưa đến trợ tử. Một lý do mạnh mẽ phản đối trợ tử là uy tín của nền y khoa bị tổn hại. Bởi vì, nhiệm vụ của thầy thuốc được xác định từ lâu là bảo vệ sự sống chứ không phải tiêu diệt sự sinh tồn của con người. Người được cho là chống đối trợ tử đầu tiên trong lịch sử y học là Hippocrates, ông tổ ngành Y phương Tây. Trong lời thề Hippocrates, ông kêu gọi thầy thuốc là người “không bao giờ cho ai một liều thuốc độc, dù người đó yêu cầu và không bao giờ gợi ý về điều đó”. Luật y đức (Code de Déontologie) của Pháp, điều 38 quy định người thầy thuốc không có quyền cố tình gây nên cái chết. Nhưng lý do lớn nhất là ảnh hưởng của tôn giáo thần khải tin rằng sự sống có tính chất thiêng liêng do thượng đế ban cho con người, chỉ có thượng đế mới có quyền lấy đisự sống. Chính sự tin này làm rất nhiều người kết án trợ tử, xem trợ tử là giết người. Một số người không đồng ý trợ tử vì cho rằng việc cứu chữa người bệnh thập tử nhất sanh phải là “còn nước còn tát”. Bởi vì đã có trường hợp tuy hiếm, là có người bệnh sau thời gian rất dài hôn mê lại hồi sinh và sống.
Về phía ủng hộ trợ tử, họ cho rằng hợp pháp hóa trợ tử bằng pháp luật quy định chặt chẽ là việc nên làm, có lợi cho người chết và người thân còn sống. Việc chăm sóc giảm nhẹ sự đau đớn (palliative care) cho người bệnh thuộc loại nan y dù phát triển tốt đẹp đến đâu vẫn không giải phóng người bệnh hoàn toàn khỏi nỗi đau đớn, chỉ có cái chết mới giúp họ không còn đau. Hơn nữa, tình hình kinh tế của người bệnh, của hệ thống y tế khó lòng kham nổi việc điều trị quá kéo dài mà sau cùng người bệnh vẫn chết (do bệnh vô phương cứu chữa). Chính tình trạng vừa kể làm cho, bên cạnh sự phản đối trợ tử, vẫn xảy ra âm thầm, không dám công khai các hành động trợ tử hoặc giúp cho bệnh nhân tự tử. Một số nghiên cứu trên thế giới gần đây cho thấy số tử vong do trợ giúp y khoa tại các nước tiên tiến là khá cao. Hai công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí Lancet (2/8/2003) dựa trên 20.000 ca tử vong, tỷ lệ chết do trợ giúp y khoa đi từ 23% (nước Ý) tới51% (Thụy Sĩ).
Cũng theo phong trào ủng hộ trợ tử, hợp pháp hóa trợ tử nếu được pháp luật quy định chặt chẽ, sẽ không làm tăng những trường hợp “trợ tử” giả hiệu tức giết người bệnh một cách tùy tiện; trái lại có thể phân biệt một cách rõ ràng hai hiện tượng với động Cơ hoàn toàn khác nhau này. Trợ tử hợp pháp chính là hành động giúp người bệnh chết một cách nhẹ nhàng, nhằm mục đích làm thuyên giảm khổ đau của người bệnh và cả người thân của người bệnh trong giai đoạn cuối cuộc đời khi mà bệnh đó không thể nào chữa khỏi. Trợ tử nếu được pháp luật bảo vệ trước hết cũng phải xuất phát từ tấm lòng nhân đạo, từ bi cứu khổ của thầy thuốc. Vì thế, nếu không được hợp pháp hóa, trợ tử xuất phát từ lòng nhân từ bằng cách này hay cách khác vẫn được thực hiện một cách âm thầm, kín đáo, không dám công khai. Một thầy thuốc đồng thời là Phật tử, tức người thấm nhuần triết lý không sát sinh, đã thú nhận việc dừng điều trị cho bệnh nhân ở giai đoạn cuối đời (xem như trợ tử thụ động) trong bệnh viện ở Pháp. Chỉ vì muốn làm giảm bớt và ngắn đi nỗi đau khổ của người bệnh và gia đình thay vì cũng sẽ chết nhưng kéo dài lê thê, hạ thấp phẩm giá con người, một cách vô ích (Trịnh Nguyên Phước, “Đối thoại giữa Đức Phật và gã chăn cừu”, Nhà xuất bản Văn Nghệ TPHCM - 2009, trang 189). Theo thiển ý của người viết bài này, đối với người bệnh ở giai đoạn cuối đời, chết một cách tự nhiên là tốt nhất. Nhưng trong một số trường hợp, sự kéo dài sự sống chỉ là nỗi khổ đau của người bệnh và gia đình, thì trợ tử của người thầy thuốc với sự thỏa thuận của người bệnh hay gia đình là cần thiết. Điều hết sức quan trọng là người thầy thuốc cần có lòng từ bi và trí tuệ để thực hiện nguyện vọng của người bệnh hay gia đình người bệnh nhằm giải phóng nỗi khổ đau của họ. Có lòng từ bi tức là có lòng thương người, luôn xem sự sống là thiêng liêng, nếu có làm điều gì xâm phạm đến sự sống thì đó là điều bất khả kháng và làm chỉ vì muốn chấm dứt đau khổ. Đừng bao giờ trợ tử kiểu bất nhân như quan điểm của bác sĩ Hoche người Đức viết trong một cuốn sáchin năm 1920 “nên chấm dứt sớm sự sống với các bệnh nhân bị bệnh nan y, bệnh tâm thần và trẻ con dị dạng vì họ sống với cuộc sống không đáng sống"!. Chính quan điểm bất nhân này góp tạo nên tư tưởng Đức quốc xã phát xít sau này. Còn có trí tuệ là có đủ hiểu biết, kiến thức về chuyên môn, y đức và pháp luật để giúp người bệnh “gần đất xa trời” với căn bệnh không thể chữa được, thoát khỏi thế giới một cách êm ả, dễ dàng. Người thầy thuốc rất cần trang bị trí tuệ tập thể. Đó là luật trợ tử nếu quốc gia của người thầy thuốc đã hợp pháp hóa trợ tử. Luật hợp pháp hóa trợ tử được gọi là trí tuệ tập thể vì toàn đất nước được huy động trí lực để xây dựng nên, xác định thế nào là trợ tử hợp pháp. Mặt khác, trí tuệ tập thể còn là tiến bộ y học không ngừng phát triển nhờ phát minh của nhân loại. Tiến bộ y học vừa càng ngày càng xác định chính xác hơn thời điểm thích hợp giúp tạo “cái chếtêm ả” cho người bệnh vô phương cứu chữa vừa kéo dài cuộc sống có chất lượng. Với lòng từ bi và trí tuệ, người thầy thuốc mới thực hiện được trợ tử, giúp “cái chết cần thiết và nhân đạo” cho người bệnh. Rất mong các nhà chuyên môn nước ta có ý kiến về vấn đề này.
Doping là gì?
Doping là gì?
Khi một vận động viên thể thao sử dụng phương tiện, một chất nào đó để tăng lực và nâng cao thành tích thi đấu một cách bất hợp pháp, ta gọi là doping. Nếu theo định nghĩa đầu tiên được đưa ra trước đây khá lâu: “Doping là sử dụng những chất có nguồn gốc hóa học được tổng hợp, không thuộc các hợp chất thiên nhiên...” thì digitalin, một loại thuốc trợ tim là hợp chất thiên nhiên được chiết xuất từ một loài thực vật theo định nghĩa được phép sử dụng (thực tế dùng thuốc này là doping). Hoặc theo một định nghĩa khác đã được đề xuất: “Doping là sử dụng chất kích thích không có giá trị dinh dưỡng dùng cho mục đích nâng cao thành tích một cách giả tạo” thì thiếu chính xác bởi vì không chỉ có chất có tác dụng kích thích mà còn có các chất có tác dụng trấn an, thuốc lợi tiểu cũng bị cấm. Năm 1963, hội nghị lần đầu tiên của các nước Châu Âu bàn về doping đã chấp nhận định nghĩa được xem là tương đối trọn vẹn như sau: “Doping là sử dụng chất hoặc phương tiện nào đó nhằm mục đích nâng cao một cách giả tạo thành tích trong thi đấu mà việc này làm ảnh hưởngnền đạo đức thể thao và làm tổn hại sự toàn vẹn thể chất và tinh thần vận động viên”.
Những chất dùng trong doping là gì? Hiện nay, danh sách các chất bị cấm dùng trong thi đấu thể thao rất dài, có khoảng hơn 100 chất, có thể chia thành các nhóm. Một số nhóm điển hình gồm có:
Nhóm các chất kích thích hệ thần kinh trung ương Nhóm này có rất nhiều chất, từ những chất gây nghiện đến những chất là thành phần trong các dược phẩm trị cảm cúm thông thường. Có thể kể: amphetamin (thuốc thuộc nhóm kích thích hệ thần kinh trung ương được dùng như ma túy, “thuốc lắc” hay ecstasy hoặc “hàng đá” là methamphetamin được dùng hiện nay chính là dẫn chất amphetamin), strychnin, cocain, ephedrin, niketamid, phentermin, phenylpropanolamin, cafein...các chất này nói chung có tác dụng kích thích, làm mất cảm giác mệt nhọc, tăng phản xạ tủy, tăng hoạt động của cơ. Tác hại của chúng là Sau giai đoạn hưng phấn kích thích, thường tiếp theo là giai đoạn ức chế, gây mệt mỏi nhiều hơn, và đặc biệt người sử dụng không cảm thấy dấu hiệu kiệt sức nghiêm trọng, dễ bị ngộ độc và tử vong. Nhóm các chất dãn mạch, hạ huyết áp và trợ tim Gồm các thuốc: chẹn bêta (acebutolol, atenolol, metoprolol, propranolol, sotalol...thường dùngtrịbệnh tănghuyếtáp), digitalin (trợ tim), trinitrin (dãn mạch vành)... Các thuốc này được doping nhằm cải thiện tình trạng tim mạch khi thi đấu quá quyết liệt. Nhóm các thuốc nội tiết tốsteroid tăng biến dưỡng
Đây là nhóm được sử dụng nhiều nhất, đặc biệt là dẫn chất của nội tiết sinh dục nam testosteron như nandrolon, norethandrolon... Chúng có tác dụng gia tăng sự đồng hóa chất đạm, làm tăng thể tích và sức mạnh cơ bắp. Phụ nữ doping chất này có thể hình trông như đàn ông. Ở Olympic Seoul 1988, Ben Johnson đã bị hủy bỏ thành tích chạy 100 mét với 9 giây 79 và bị phạt rất nặng do đã doping bằng thuốc thuộc nhóm này.
Nhóm thuốc giảm đau gây nghiện
Đây là các thuốc có nguồn gốcma túynhưmorphin, methadon, pethidin, codein, dextropropoxyphen... Là các thuốc dùng trị bệnh nhưng thi đấu thể thao thì không có nghĩa là bị bệnh, vì vậy, nếu xét nghiệm nước tiểu vận động viên có các chất thuộc nhóm này thì không chỉ quy là doping mà còn đồng nghĩa với sử dụng ma túy là hành động phạm pháp.
Nhóm các chất là thuốc lợi tiểu
Gồm có:furosemid, hydroclorothiazid,spironolacton, amilorid, triamteren, clortalidon... Các thuốc này cũng giúp cho vận động viên cải thiện tình trạng tim mạch do thải một lượng nước đáng kể ra khỏi cơ thể nhưng lại bất hợp pháp nếu dùng trong khi thi đấu.
EPO
Trong giai đoạn chuẩn bị Olympic Sydney 2000, các nhà khoa học đã bắt đầu bàn đến hoạt chất erythropoietin (còn gọi tắt là EPOETIN hay EPO) dùng trong doping.
Thực chất EPO là một nội tiết (hormone) do thận tiết ra có bản chất là một glycoprotein. Do là hormone có sẵn trong cơ thể nên khi doping rất khó phát hiện Tác dụng của EPO là kích thích cơ thể sinh ra đủ hồng cầu đảm nhận tốt việc hô hấp. Hiện nay, nhờ đã phát hiện và xác định được gen tổng hợp EPO, đặc biệt nhờ kỹ thuật tái tổ hợp dùng trong công nghệ sinh học màngười ta đã sản xuất thuốc EPO dùng trong trị liệu một số bệnh thiếu máu. Người bị suy thận mạn không những chỉ thường xuyên chạy thận nhân tạo mà còn dễ thiếu máu do không tổng hợp được erythropoietin. Epo được dùng ở dạng thuốc tiêm (tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da), khi tiêm sẽ tăng sinh hồng cầu và tăng lượng hemoglobin trong máu. Trong thi đấu thể thao, khi hoạt động cơ bắp cơ bắp cật lực để đạt thành tích, vận động viên rất cần oxy, và trong hô hấp càng thu nhận oxy nhiều chừng nào tốt chừng nấy. Và như vậy, vận động viên có thể dùng doping bằng cách dùng EPO để tăng số lượng hồng cầu trong máu, tức là tìm cách có lượng oxy nhiều cho hoạt động cơ bắp một cách bất hợp pháp. EPO hiện nay đã nằm trong danh sách các chất nghiêm cấm sử dụng trong thi đấu thể thao.
Các vận động viên chân chính luôn luôn biết rằng khi thi đấu mà được xét nghiệm vướng phải “dương tính” của chất doping thì không có lý do gì chối cãi bởi vì họ có nhiệm vụ biết rõ thuốc gì bị nghiêm cấm. Họ không dính vào doping vì phải thuộc nằm lòng: “Thi đấu thể thao đồng nghĩa với rèn luyện nhân cách và đạo đức”.
XÉT NGHIỆM MÁU BIẾT ĐỂ TRÁNH ÂU LO
Chỉ khi chẩn đoán bệnh đúng bác sĩ mới điều trị bệnh hiệu quả. Việc chẩn đoán đúng bệnh càng quan trọng trong kiểm tra sức khỏe định kỳ là công việc hết sức cần thiết cho tất cả mọi người. Nó giúp cho chúng ta phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe trước khi có biểu hiện bệnh, khi đó cơ hội điều trị bệnh sẽ tốt hơn. Để chẩn đoán đúng, bác sĩ thường phải thực hiện 2 việc: chẩn đoán lâm sàng và chỉ định làm xét nghiệm (còn gọi là xét nghiệm y khoa hay xét nghiệm cận lâm sàng). Chẩn đoán lâm sàng là bác sĩ thăm khám trực tiếp để xem các dấu hiệu hoặc triệu chứng biểu lộ từ cơ thể người bệnh nhưxem thân nhiệt, huyết áp, nhịp tim, nhịp thở... Còn chỉ định làm xét nghiệm có nghĩa là bác sĩ ray lệnh cho người bệnh được lấy máu hay nước tiểu (hai dịch sinh học thường được sử dụng nhiều nhất) để xét nghiệm. Khi có kết quả xét nghiệm, bác sĩ đọc và nhận định kết quả để xem bệnh nhân có thật sự bị bệnh, tình trạng như thế nào. Kết quả xét nghiệm có các thông tin mà giới chuyên môn (bác sĩ, dược sĩ) nhờ đã được đào tạo có thể đọc được. Đối với người bệnh, cũng cần biết kết quả một sốxét nghiệm liên quan đến một số bệnh thường mắc để tránh thắc mắc đưa đến lo âu không cần thiết khi không hόi duoo thầy thuốc. Trong kiểm tra sức khỏe định kỳ thường bác sĩ cho làm xét nghiệm máu. Sau đây là ý nghĩa của kết quả một số xét nghiệm máu liên quan đến bệnh thường gặp mà người bệnh cần biết.
Xét nghiệm đường huyết (đo glucose/máu): Trong phiếu xét nghiệm đường huyết được ghi GLUCOSE, tức ghi hàm lượng hay nồng độ glucose có trong máu. Trong xét nghiệm này, sẽ đánh giá nồng độ đường glucose trong máu để xem có bị tiểu đường hay không. Tiểu đường hay đái tháo đường là bệnh không lây nhiễm, do sự thiếu insulin hoặc có insulin nhưng không nhạy cảm, đưa đến sự tăng đường huyết mạn tính. Để biết có bị hay không đái tháo đường, phải làm xét nghiệm máu đo nồng độ đường glucose trong máu. Là nồng độ nên đơn vị tính glucose trong máu là mg/dl (Số mg glucose trong 100 mililít máu) hay mmol/l (số milimol glucose trong 1 lít máu). Lưu ý trịsố tính theo 2 loại đơn vị là khác nhau. Như đối vớingườibình thường không bị đái tháo đường, xét nghiệmđườnghuyếtlúcđóisẽlà<126mg/dl(nhỏhơn126mg/dl)hay <7 mmol/l. Số 126mg/100ml được gọi là trị số giới hạn đường huyết, nếu lớn hơn là bị bệnh. Tuy nhiên, trong phiếu xét nghiệm người ta không ghi trị số giới hạn mà ghi khoảng trị số đối chiếu (hay khoảng giá trị tham khảo, khoảng bình thường), như đường huyết là 70 - 110mg/dl (có nơi có khoảng bình thường ghi 76-120mg/dl) và kết quả xét nghiệm của người được đo sẽ được đối chiếu để xem có rối loạn hay không. Thí dụ, kết quả xét nghiệm đường huyết là 100mg/dl, so với 70 - 100mg/dl thì nằm giữa khoảng nên là bình thường. Nếu kết quả đo >110mg/dl (lớn hơn 110mg/dl) là có rối loạn tăng đường huyết, bằng hoặc trên 126mg/dl là đã bị đái tháo đường. Nếu kết quả đo < 70mg/dl (nhỏ hơn 70mg/dl) là có rối loạn hạ đường huyết, như kết quả đo 53mg/dl là có thể bị hôn mê do hạ đường huyết. Cần lưu ý, khoảng trịsố đối chiếu ở các bệnh viện khác nhau có thể hơi khác nhau bởi vì có nhiều phương pháp khác nhau được dùng ở bệnh viện để đo xét nghiệm đường huyết. Vì trị số đường huyết bình thường được xác định vào lúc bụng đói, để có kết quả xét nghiệm đường huyết chính xác, người được đo cần nhịn đói 4-6 giờ trước khi lấy máu làm xét nghiệm hoặc không ăn sáng sau một đêm ngủ dậy.
Xét nghiệm mỡ máu (đo lipid, cholesterol, LDL-c, HDL-c, triglycerid)
Trong máu có mỡ hay còn gọi lipid, bình thường lipid chứa trong máu với hàm lượng vừa phải, nếu khác hơn là bị rối loạn lipid huyết. Rối loạn lipid huyết (hay nhiều người gọi là rối loạn mỡ máu) là tình trạng khi hàm lượng chất béo như cholesterol, triglyceride ở trong máu vượt quá giớihạnbình thường. Xét nghiệm này đánh giá tình trạng rối loạn chuyển hóa mỡ trong cơ thể. Ta cần biết, chất béo như cholesterol, triglycerid không tan trong nước tức không tan trong máu, vì vậy, chất béo phải kết hợp vớimộtprotein (chất đạm) tạo thành chất gần nhưtan trong máu, di chuyển dễ dàng trong máu gọi là lipoprotein. Như cholesterol kết hợp với lipoprotein tạo thành các chất có tỉ trọng khác nhau. Trong xét nghiệm, người ta quan tâm đến hai loại cholesterol kết hợp với lipoprotein. Đó là cholesterol kết hợp với lipoprotein có tỉ trọng thấp, viết tắt là LDL-c (Low Density LipoproteinCholesterol) và cholesterol kết hợp với protein có tỉ trọng cao, viết tắt là HDL-c (High Density Lipoprotein- Cholesterol). LDL-c đượcxem là cholesterol “xấu” vì nó vận chuyển cholesteroltừ gan đi khắp nơi, thứ này quá thừa sẽ gây xơ vữa động mạch, huyết khối tắc mạch. Còn HDL-c được xem là cholesterol “tốt” vì nó vận chuyển cholesteroltừ các mô ngoại biên về gan, làm chất béo trong máu giảm xuống. Trong phiếu xét nghiệm, mỡ trong máu được ghi 4 tiêu chí: cholesterol toàn phần (cholesterol hoặc cholesterol TP), triglycerid, LDL-c, HDL-c. Chỉ số đối chiếu (giá trị tham khảo) của mỡ trong máu như Sau: Cholesterol TP:150-200mg/dlhoặc <200mg/dl (Thí dụ kết quả đo 162mg/dl là tốt, 240mg/dl là không tốt). - Triglycerid:25-160mg/dl (Thí dụ kết quả đo 112mg/dl là tốt, 200mg/dllà không tốt).
LDL-c:90-150mg/dlhoặc<150mg/dl(Thídụkếtquảđo93mg/dl là tốt, 160mg/dl là không tốt)
HDL-c: > 40mg/dl (Thí dụ kết quả đo 47mg/dL là tốt, 35mg/dl là không tốt)
Xét nghiệm chức năng gan hay men gan (đo SG0T,SGPT)
Men (còn gọilàenzyme) là chất sinh học có bản chấtprotein (chất đạm) có tác dụng xúc tác phản ứng hóa học, phản ứng chuyển hóa các chất trong tế bào. Trong tế bào gan chứa nhiều loại men gọi là men gan. Khi tế bào gan bị tổn thương (như bị viêm gan) các men gan sẽ phóng thích vào máu làm nồng độ men gan tăng lên So với mức bình thường. Đo men gan có thể biết được tình trạng tổn thương gan. Hai men gan thường dùng trong xét nghiệm là thuộc loại men transaminase (men chuyển vận amin giữa chất đạm và đường) có tên như sau:
SGOT (Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase) còn gọi là AST (Aspartat aminotransferase).
SGPT (Serum Glutamic Pyruvic Transaminase) còn gọi là ALT (Alanin aminotransferase).
Trị số đối chiếu (giá trị tham khảo) của men gan:
SGOT/ALT:5-48 U/L (U/L: đơn vị /1 lít máu, kết quả đo 32 U/L là tốt).
SGPT/AST:5-49 U/L (Kết quả đo 32 U/L là tốt)
Khi bị viêm gan, SGOT/ALT và SGPT/AST tăng gấp 2-10 lần bình thường.
Xét nghiệm chức năng thận (đo creatinin/máu)
Xét nghiệm đánh giá thận có hoạt động bình thường hay đã bị suy chức năng thận. Khoảng bình thường creatinin/máu: 0,5-1,4mg/dL (44-124 pumol/L). Nếu creatinin máu cao có nghĩa chức năng hoạt động của thận yếu, khi cratinin máu > 150 pmol/L là đã bị suy thận.
Xét nghiệm Acid Uric máu
Ta cần biết, acid uric là sản phẩm cuối cùng của chuyển hóa chất dinh dưỡng trong cơ thể (chuyển hóa của hợp chất có tên purin), nếu acid uric sinh ra không nhiều quá sẽ được đào thải chủ yếu qua nước tiểu. Khi acid uric trong máu (gọi là acid uric huyết) tăng ở mức không nhiều quá (từ 7 đến 9mg/dl), khi đó được gọi là chứng tăng acid uric huyết không triệu chứng, không cần điều trị bằng thuốc mà chỉ cần thực hiện chế độ ăn phù hợp. Khi acid uric huyết đo được trên 9mg/dl, acid uric là chất ít tan sẽ kết tinh thành tinh thể muối urat đọng lại trong sụn, khớp đến mức gây đau đớn có khi là dữ dội ở các khớp gọi là cơn gút cấp, khi đó phải dùng thuốc trị gút. Trị số đối chiếu (giá trị tham khảo) của acid uric trong máu: 2–7mg/dl (120-420 mmol/l). Các xét nghiệm kể trên còn được gọi là xét nghiệm sinh hóa máu. Xét nghiệm máu nói chung còn có xét nghiệm công thức máu (huyết đồ) là loại đo số lượng các tế bào máu như bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu, đặc biệt đo nồng độ huyết sắc tố để đánh giá tình trạng thiếu máu. Hay xét nghiệm các bệnh, như xét nghiệm bệnh lý tuyến giáp (đo TSH, FT4, T3...), bệnh viêm gan siêu vi B (ngoài đo SGOT, SGPT, còn đo HBsAg, Anti HBs...) v.v... Những xét nghiệm sau phải có trình độ chuyên môn để đọc và diễn giải kết quả.
.png)
0 comments: